Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013

CHUYỆN VỀ CỤ TÔN THẤT TẦN QUA LỜI KỂ CỦA NHÀ VĂN VŨ THƯ HIÊN

CHUYỆN VỀ CỤ TÔN THẤT TẦN QUA LỜI KỂ CỦA NHÀ VĂN VŨ THƯ HIÊN
(Bài này là một phần của Đêm Giữa Ban Ngày – Vũ Thư Hiên).
.
Chương 38
.
Ở Hỏa Lò tôi đã được nghe Thành kể về con người huyền thoại đã ở liền một mạch hai mươi hai năm trong tù. Anh nói có lần chưa hoàn cung anh bị đưa đi trại chung, tôi không nhớ trại nào, tại đây anh gặp những người đã ở chung với một tù nhân có thâm niên cao nhất : tù suốt từ 1946 cho tới tận bây giờ (tức năm 1968). Kỷ lục ấy chưa có ai vượt qua. Vì sự chịu đựng ghê gớm ông ta được mệnh danh là “Jean Valjean(1) gọi bằng cụ”.Tôi nghe, nhưng không tin. Tin làm sao được chuyện tào lao đến thế ! Chúng tôi đang sống giữa thế kỷ XX, chứ đâu phải thời Trung cổ.Không ngờ chuyện đó có thật và rồi tôi được gặp “Jean Valjean gọi bằng cụ” bằng xương bằng thịt ở trại A Tân Lập.
Một hôm Trần Chấn Hoa dẫn tôi sang nhà C, nơi có đám số tù số lẻ ở trại Vĩnh Quang (tỉnh Vĩnh Phú) vừa chuyển lên, chưa phân vào các toán. Trần Chấn Hoa cũng đã ở Vĩnh Quang vài năm, y có nhiều người quen. Nghe Trần Chấn Hoa tả thì trại nằm dưới chân Tam Ðảo, một bình nguyên rộng ngút tầm mắt, nơi trâu ấn Ðộ và cừu Mông Cổ được nuôi thí nghiệm để nhân giống. Cuộc thí nghiệm không thành công. Những con trâu to kềnh không cho sữa, cừu thay nhau lăn ra chết. Tôi đã đến đây làm phóng sự, nhưng không thành. Người ta chỉ in các phóng sự về thành công thôi. Bù lại, tôi được ăn thỏa thích thịt cừu hoi rình trong những món chém to kho nhừ của bếp nông trường. Thịt cừu nấu plow (pilaw) hoặc súp kharcho(2) rất tuyệt, nhưng không ai biết làm.

Trần Chấn Hoa số chẵn, nhưng ở trại A Tân Lập y lại nằm trong số lẻ. Xem ra cái việc cài chỉ điểm của công an thật vô nguyên tắc. Người ta sẽ làm gì với những báo cáo về tôi của một tên ba hoa ?

- Ta đến xem “Jean Valjean gọi bằng cụ” đi. – y nói.

- “Jean Valjean gọi bằng cụ” là ai ?

Y giải thích. Tôi nghe, làm ra vẻ chăm chú.

- Ông này quán quân ở tù cơ anh ơi ! Hai mươi sáu năm liền tù tì.

- Làm gì có chuyện ! Bịa.

- Anh gặp khắc biết, em không bịa đâu. Kia, cái ông gày gày khoác áo bông ngồi đàng kia kìa !

Theo tay Trần Chấn Hoa chỉ tôi nhìn thấy một người đàn ông đứng tuổi, gày và xanh, đang ngồi chăm chú đọc sách. Hôm ấy chủ nhật, tù được nghỉ, không đi lao động.

Tôi đến, ngồi xổm trước mặt ông:

- Chào bác !

- Chào anh ! – ông ta ngẩng lên, không vồn vã.

Người tù ngồi liền tù tì hai mươi sáu năm trông chẳng khác gì mọi người ở đây. Tôi hình dung ông phải già lắm kia, phải lụ khụ lắm kia, hóa ra không phải. Bề ngoài ông còn trẻ, thậm chí trông không già hơn tôi bao nhiêu.

- Có phải bác là “Jean Valjean gọi bằng cụ” không ?

- Ai bảo anh rứa ?

- Những người tù ở đây.

Ông mỉm cười hiền lành:

- Hay nhỉ ? Rứa mà tui không biết.

- Bác là nhân vật nổi tiếng. Người như bác hiếm.

- Còn anh ?

- Tôi chẳng là gì sất. Tôi chỉ là một người tò mò.

“Jean Valjean gọi bằng cụ” nhìn lên trời, cười không có tiếng. Im lặng một lát, ông nói khẽ :

- Anh là Vũ Thư Hiên, phải không ? Tui cũng đã nghe nói về anh…

Tôi sửng sốt. Tù Vĩnh Quang mới lên hôm qua. Ai đã kể cho ông nghe về tôi ?

- Trong đám tui ở Vĩnh Quang có người đã gặp anh ở ngoài. Anh ta nhận ra.

- Ai nhỉ ?

- Anh không biết anh ta. Nhưng anh ta biết anh.

Người biết tôi là một nhà thơ địa phương, theo sự tự giới thiệu của anh ta sau này. Tôi không nhớ đã gặp anh ta trong trường hợp nào. Những nhà thơ dân gian với những bài thơ xỏ xiên, châm chọc chính quyền rơi vào tù khá nhiều. Cả những nhà văn dân gian chuyên sáng tác chuyện tiếu lâm cũng vậy. Ba Giai, Tú Xuất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ được phép sống trong nhà tù.

Ngày hôm sau “Jean Valjean gọi bằng cụ” được nhập vào toán tôi. Theo sự điều đình của Trần Chấn Hoa, người tù nằm bên cạnh chúng tôi dọn đi nơi khác, nhường chỗ cho “Jean Valjean gọi bằng cụ”.

- Tui tên Tôn Thất Tần. – ông ta nói.

Nể tôi lắm Trần Chấn Hoa mới làm theo ý tôi. “Ông ta bị lao đấy”, y thì thào. Nhưng tôi biết – y phải chiều tôi. Không chiều tôi thì y không thực hiện được trọng trách mà ban giám thị trao cho. Cho nên tôi có thể bắt bí.

Tôi thích chơi với “Jean Valjean gọi bằng cụ”. Ðó là người tù trí thức đầu tiên mà tôi gặp ở Tân Lập. Tôn Thất Tần thỉnh thoảng có húng hắng ho thật, nhưng dấu hiệu khác của bệnh lao không thấy. Ông gày nhẳng, da xạm, nhưng tù đều gày và xanh, chẳng có ai béo tốt. Hồng hào nhất ở đây có lẽ là Trần Chấn Hoa. Y được gia đình tiếp tế thường xuyên. Tù số lẻ phần nhiều là tù lưu niên, trên dưới mười năm cả. Những người tù ở lâu ít được tiếp tế: Người thì cha mẹ quy tiên, người thì vợ đi lấy chồng, con cái còn nhỏ dại. Nguyên nhân là tù lâu quá, gia đình nào rồi cũng mệt mỏi, cũng phát chán.
Tôi không sợ lây bệnh Tôn Thất Tần, nếu như ông lao thật. Tôi đã bị lao trong kháng chiến chống Pháp, hậu quả lần chấn thương phổi do pháo bầy trong trận chống càn Bretagne năm 1952. Bác Sĩ Hoàng Ðình Cầu (3) hồi ấy ở Nông Cống khám cho tôi, tiên đoán tôi sẽ chết. Nhưng tôi vẫn sống để đi đón anh ở ga Iaroslavsky tại Moskva khi anh sang Liên Xô bổ túc nghiệp vụ. Không hiểu sao, nhưng tôi đinh ninh tôi chết không dễ dàng.

- Anh nên thận trọng trong khi giao thiệp với Trần Chấn Hoa. Tui muốn nói không nên gần gụi anh ta nhiều quá ! – Tôn Thất Tần dặn tôi. – Khi gần gụi nhiều người ta sẽ tin những lời anh ta nói về mình là đúng. Nói chung, ở trong tù anh nên cẩn thận. Giao thiệp với bất cứ ai cũng vậy, có khi mình sơ suất gây ra những hậu quả rất xấu.

Tôi trân trọng lời khuyên của bậc đại trưởng lão trong bộ lạc tù. Không nghe lời ông thì còn nghe ai ? Ông có đàng sau lưng một thâm niên tù không ai sánh bằng, kinh nghiệm đời tù ông tích lũy đủ cho mấy thế hệ đi sau.

- Cả với bác nữa chứ ? – tôi nói đùa.

- Tất nhiên. – ông trả lời ráo hoảnh – Trong tù có quá nhiều điều bất ngờ, đến nỗi lắm lúc mình chỉ còn biết trợn mắt lên mà ngạc nhiên, anh ạ. Thật vậy, con người ta lạ lắm, thay đổi nhanh lắm ! Người mình ngỡ trung thành khi lâm sự hóa ra tên phản bội. Kẻ hôm qua bị cả trại chê hèn nhát thì hôm nay bỗng làm mọi người kinh ngạc vì một hành động anh hùng xuất chúng. Cuộc đời, nó lạ lắm ! Nói bất ngờ là nói quen miệng, chớ mọi tính cách có sẵn trong con người ta hết, tốt có, xấu có, gặp dịp là bùng ra, là nổi lên…

- Bác không cho rằng có người tốt, người xấu ?

- Có chớ. Người tốt là người biết phân biệt cái xấu và cái tốt, điều nên làm và điều không nên làm, là người có ý chí mạnh mẽ đè nén được cái xấu, không cho phép nó hoành hành… Người tốt là người sống thật thà với mọi người cũng như với chính mình, tức là tui muốn nói những người không đạo đức giả, làm ra vẻ tốt nhưng trong lòng xấu xa…

Hoàng hôn ở Tân Lập ngắn ngủi. Khi mặt trời vừa khuất sau những rặng núi xa thì bóng tối liền đổ ập xuống. Tù xếp hàng điểm danh khi những tia nắng cuối cùng chưa tắt trên những ngọn cây. Ðiểm danh xong là tối. Chúng tôi bị lùa vào phòng, khóa cửa lại.

Câu chuyện được tiếp tục bên trong song sắt.

- May một cái là ở trong tù mình mau chóng nhận ra người tốt người xấu. Nhà tù không có chỗ cho những âm mưu lâu dài. Người tù không biết mình sẽ ở địa điểm nào vào ngày mai, hắn đểu cũng vội vàng đểu, cũng hấp tấp đểu, sợ không kịp…

Tôn Thất Tần chỉ sống với quá khứ, bằng quá khứ. Mà quá khứ cũng chỉ được tính từ năm 1946 trở về trước. Những sự kiện sau đó, cho dù chúng lớn tới mấy, ông không tính, không nhớ, hoặc không thèm nhớ.

- Tui đã có vợ con.

Ông bắt đầu câu chuyện, rồi im bặt.

- Bác có được tin của bác gái không ?

- Không. Từ năm 1946 tui không còn được tin gì của nhà tui nữa.

- Bác có biết mặt con chứ ?

- Biết. Nó là con gái.

Người ta kể Tôn Thất Tần đã tham gia cuộc nổi loạn của tù nhân ở chiến khu Bình-Trị-Thiên. Những người tù phá trại, giết lính gác rồi bỏ trốn vào rừng. Họ lần lượt bị bắt lại hết, không sót một ai. Hai người bị kết án tử hình. Tôn Thất Tần lĩnh án chung thân, sau được giảm xuống 20 năm. Về chuyện này dường như Tôn Thất Tần không muốn nhắc lại, không muốn nói tới, mặc dầu tôi có vài lần hỏi ông. Mãi một năm sau ông mới kể cho tôi nghe, nhân câu chuyện tình báo Việt Nam đánh đắm một thông báo hạm của Pháp tại vùng biển Sầm Sơn năm 1950, tôi nhắc tên Hoàng Ðạo.

- Anh biết hắn ta à ?

- Chúng tôi quen nhau khá lâu.

Ông cúi xuống, lầm rầm câu gì nghe không rõ. Hình như ông văng tục. Bình thường không bao giờ Tôn Thất Tần văng tục hoặc chửi bậy, cho nên tôi nghĩ tôi nghe nhầm.

- Bác bảo sao ?

- Tui nói hắn là thằng chó đẻ !

Tôi thấy mếch lòng. Dù sao Hoàng Ðạo cũng là người quen của tôi.

- Tại sao bác lại gọi anh ấy là thằng chó đẻ ?

- Bởi vì hắn là một thằng như rứa.

Tôn Thất Tần nói như gắt.

Thì ra chính Hoàng Ðạo là nguyên nhân, hay nói cho đúng, là khởi điểm cho đời tù lê thê của Tôn Thất Tần.

Hai người vốn là bạn bè. Khi Tôn Thất Tần rời Huế đi học Trường Thể Thao Phan Thiết thì Hoàng Ðạo hoạt động cách mạng. Cách Mạng Tháng Tám nổ ra ở Huế, Hoàng Ðạo trở thành giám đốc công an thành phố. Tôn Thất Tần trở về, họ vẫn chơi với nhau.

Cho tới khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước 6-3 năm 1946, cho quân Pháp quay lại Ðông Dương thay quân đội Ðồng Minh làm nốt việc giải giáp quân đội Nhật Bản và giữ trật tự trên lãnh thổ do Nhật chiếm đóng, thì ở Huế một số chính khách xa-lông bất bình. Họ nói Hồ Chí Minh bán nước. Tôn Thất Tần ở trong số thanh niên phản đối Hiệp ước.

- Bây giờ bác có còn nghĩ rằng lúc ấy bác đúng không ?

- Không. Tui sai. Cụ Hồ đã đi một nước cờ cao. Nếu quân Tưởng ở lại cái họa còn lớn hơn. Bọn Pháp ở xa chính quốc, quân số không nhiều, quân Tưởng có hậu cứ sát nách ta, lại ô hợp, chơi nhau với nó mệt lắm …

Tôn Thất Tần tìm Hoàng Ðạo nhờ Hoàng Ðạo in truyền đơn chống chính phủ Hồ Chí Minh. Hoàng Ðạo không nhận lời, một hai khuyên can Tôn Thất Tần đừng làm chuyện thọc gậy bánh xe, nhưng Tôn Thất Tần không nghe. Không nhờ được Hoàng Ðạo, ông đưa in nơi khác. Tờ truyền đơn chưa kịp in thì Tôn Thất Tần bị bắt. Người ra lệnh bắt Tôn Thất Tần chính là Hoàng Ðạo.

- Sau, hắn có cho người gặp tui, biểu chỉ cần tui chịu xin gặp hắn nhận có lầm lỡ thì hắn tha… Tui tống cái thằng đến phủ dụ ra khỏi xà lim. Sau đó thì… không biết Hoàng Ðạo đi đâu, hay là hắn tránh mặt tui, nhưng không thấy vân mòng chi nữa. Rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tù ở lao Thừa Phủ bị tống lên chiến khu.

- Hồi đó anh Hoàng Ðạo bị gọi ra Hà Nội. – tôi nói – Anh ấy không trở về Huế, mà làm trưởng ty công an Thanh Hóa. Ðến lúc đó Hoàng Ðạo có muốn thả bác cũng đã muộn. Liên lạc giữa các địa phương trong thời kỳ đầu kháng chiến rất khó khăn…

Tôi muốn an ủi Tôn Thất Tần. Chứ nếu Hoàng Ðạo muốn, anh vẫn tìm được cách để thả bạn mình. Anh đã quên bạn, hoặc anh muốn cho người ta thấy trong anh ngoài lợi ích của cách mạng ra không còn có chỗ cho cái gì khác.

- Từ đó, ở trong tù, tui cũng không nghe ai nói tới Hoàng Ðạo nữa…

- Rồi bác tham gia cuộc nổi loạn phá trại ?

Tôn Thất Tần cười, vẻ cay đắng.

Dần dà, chắp nối những mẩu chuyện rời rạc của ông lại với nhau tôi mới biết Tôn Thất Tần rơi vào trong số những người cầm đầu cuộc nổi loạn như thế nào. Người cầm đầu thật sự là Bửu Viên (có thể tôi nhớ tên không được chính xác), sau bị xử tử, từ lâu đã ngấm ngầm chuẩn bị vượt ngục. Trong số người cùng đồng tâm với ông ta không có Tôn Thất Tần. Khi những người vượt ngục lọt ra ngoài nhà giam, họ gọi Tôn Thất Tần đi theo. Lính canh phát hiện, nổ súng. Những người vượt ngục chống lại. Cuộc vượt ngục biến thành cuộc nổi loạn phá ngục có đổ máu, có người chết, người bị thương cả ở hai phía. Sau nhiều ngày lẩn quất trong rừng tất cả lần lượt bị bắt lại. Công an cho rằng không có lý nào hai người trong hoàng tộc, một Bửu một Tôn Thất, mà không bàn bạc với nhau. Không thể nào cãi lại những ông chấp pháp dai hoi, Tôn Thất Tần nhận đại cái tội mà ông không có.

Một cuộc đời tan nát bắt đầu từ một chuyện không đâu.

Chúng tôi chơi thân với nhau, mặc dầu đứng giữa tôi và Tôn Thất Tần là Mác. Ðược cái Tôn Thất Tần không quan tâm tôi cộng sản hay không cộng sản như những người tù số lẻ khác. Người như tôi dễ được Ban Giám thị chọn làm ăng-ten lắm, bọn họ nghĩ thế và có thái độ lạnh nhạt hoặc xa lánh tôi. Có người còn xưng xưng rằng đúng thế. Tôi kệ. Dù sao thì tôi vẫn là kẻ tình cờ rơi vào hàng ngũ họ từ phía bên kia. Tôi không phải người của họ.

Tôn Thất Tần ham hiểu biết. Ông còn bắt tôi nói cho ông nghe lý thuyết chủ nghĩa Mác, là cái ông không hề được đọc. Những bài giảng chính trị của các ông cán bộ dĩ nhiên không phải chủ nghĩa Mác rồi. Các chủ nghĩa, kể cả chủ nghĩa Mác, theo quan niệm thông thường, không cần đi cặp kè với còng tay và cùm sắt. Tôi nói lại cho ông nghe những điều tôi biết, một cách hờ hững. Tôi đã ngán mọi thứ chủ nghĩa mà vì chúng người ta thịt nhau.

- Như vậy, anh cho rằng nó không hiện thực ?

- Tất cả đều mò mẫm. Mác mò mẫm trong lý thuyết, các nhà mác-xít mò mẫm trong thực hành. Cái khác nhau là trong một lý thuyết sai lầm chỉ có chữ nghĩa là bị xây xát chút ít, còn trong thực hành là những số phận người, sai lầm gây ra bi kịch.

Tôn Thất Tần thở dài.

- Vậy cái gì còn lại trong chủ nghĩa Mác sau khi anh thất vọng với nó ?

- Phần nhân bản của nó, đấy là tất cả những gì còn trong tôi. Tôi thích mục đích của cái xã hội mà Mác tưởng tượng ra :”Ðưa con người từ vương quốc tất yếu qua vương quốc tự do” Con người chỉ được tự do thật sự khi nó thoát khỏi sự ràng buộc của những cái tất yếu…

- Tất yếu là cái gì trong khái niệm của Mác ?

Tôi giải thích. Tôn Thất Tần chăm chú nghe. Trong nhà tù không có sách, không có báo, thảng hoặc có chút gì thuộc nền văn minh ấn loát lọt được vào đây thì đó lại là sản phẩm của ngành tuyên giáo(4), mang theo những ngôn từ, những khái niệm hoàn toàn xa lạ với những gì mà chàng trai hai mươi ba tuổi vào năm 1946 giữ lại từ một thời đã mất.

- Như vậy Mác là người tìm tòi, còn những đệ tử của Mác thì kiếm chác.

- Có thể hiểu như vậy.

- Cái xã hội Cộng Sản mà Mác mơ tưởng có khác gì thiên đường của Thiên Chúa Giáo hay Nirvana của Phật Giáo ? Tại sao Cộng Sản các anh lại chống các tôn giáo ?

- Tôi không chống.

- Vậy anh không phải là Cộng Sản rồi.

Nói chuyện chủ nghĩa Mác trong tù thật vô duyên. Ngán lắm. Tôi đề nghị dẹp nó qua một bên để chơi cờ. Tôn Thất Tần chiều tôi. Ông chơi cờ vào loại giỏi trong trại. Tôi không thể là đối thủ của ông. Ðối thủ của ông chỉ có hai: Phún Nàng Cái và Lầm Sì Lần, hai ông nông dân người Hoa ở Lạng Sơn.

Tôi lấy làm thú vị cách phiên âm Hán-Việt những cái tên dân dã của người Tàu. Dịp Pún Mằn nghe xấu xí là thế mà khi phiên thành Diệp Bản Minh nghe thật đẹp, sướng cái tai. Phún Nàng Cái nghe chẳng ra gì, nhưng thử đọc theo cách phiên âm Hán Việt mà xem. Nó sẽ thành Phan Hành Giai, tuyệt. Phún Nàng Cái có ông bạn không lúc nào rời là Lầm Xì Lần, hình như đọc theo âm Hán Việt là Lâm Sĩ Liên thì phải.

Hai ông nông dân ở một làng biên giới Việt-Trung trở thành tù số lẻ vì một nguyên nhân lăng nhăng. Theo các bạn tù thì đâu như chỉ vì một câu nói không đẹp đối với lãnh tụ họ Mao trong một bữa rượu, thậm chí tỉnh dậy hai ông chẳng nhớ họ đã nói gì. Cũng như trường hợp Dip Pún Mằn, tuy là phản động chống chế độ, nhưng Ban Giám thị trại biết rõ họ là ai. Ðã không sợ hai tên phản cách mạng kích động tù nổi loạn hoặc làm chuyện tầm bậy nào khác trong trại, họ còn cho hai ông vào toán tự giác chuyên về nông nghiệp. Ngoài cái sự phải xa vợ xa con và buổi tối phải vào nhà giam có khóa ngoài, hai ông nông dân vẫn i xì là hai ông nông dân cày sâu cuốc bẫm. Phún Nàng Cái và Lầm Sì Lần đã ở tròm trèm hai lệnh, có triển vọng được thêm một lệnh thứ ba, nhưng xem ra họ yên tâm lắm. Là dân của cái nhà nước này tốt nhất là yên tâm. Không yên tâm cũng chẳng được. Nó cho sống được sống, bắt chết phải chết, suy nghĩ mà làm gì ! Mà họ cũng chẳng buồn trốn. Ngoài cái làng quê chôn nhau cắt rốn ra mãi tận Lạng Sơn, hai ông chẳng biết nơi nào khác, kể cả nước Tàu, từ đó các cụ tổ của hai ông đã tới đây. Ngoài giờ làm việc Phún Nàng Cái và Lầm Xì Lần bầy bàn cờ ra, dìm mọi sự đời trong những trận chiến ác liệt không có tiếng súng.

Cờ tướng ở trong tù là thú vui duy nhất của những ông già. Nhìn họ tập trung tư tưởng vào những nước cờ hiểm hóc để giành chiến thắng thì biết. Không có gì làm cho những con người đau khổ quên đi được thực tại tàn nhẫn bằng cái bàn cờ bằng giấy và những quân cờ cũng bằng giấy bồi, hoặc bằng gỗ tự gọt lấy. Nhờ bàn cờ họ đặt cuộc sống đáng nguyền rủa xuống chân để thoát tục.

- Ông Hồ cũng là một tay cờ giỏi. – Tôn Thất Tần nói.

- Sao bác biết ?

- “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”. – ông trích dẫn – Không giỏi cờ không thể đúc kết chân lý nhẹ nhàng như rứa được.

- Bác có nghĩ tới một ngày bác sẽ ra khỏi đây không ?

- Anh muốn nói tới cái thời sẽ khác đi ?

- Cho dù cái thời có không khác đi thì người ta cũng không thể giam một con người mãi mãi.

- Tại sao lại không thể ? Anh quên anh đã nói với tui về chuyên chính vô sản ở Liên Xô ra răng rồi sao ? Ở Việt Nam mình còn may, người ta không giết. Người Châu Âu thẳng ruột ngựa, chứ người Việt mình thâm. Nuôi thằng tù chẳng hết bao nhiêu mà lại thu về được rất nhiều …

Nhìn con người gày còm xanh xao ngồi trước mặt mà thương. Tôn Thất Tần sau khi được giảm án xuống hai mươi năm còn được giảm nhiều lần nữa. Cho tới khi sạch án. Tính ra tới nay ông đã ngồi hết nợ nhà nước từ lâu. Thế nhưng ông vẫn không được tha, vẫn cứ ở tù. Không còn án thì có lệnh.

- Người ta không thả tui là do hoàn cảnh. – Tôn Thất Tần giải thích – Ðất nước bị chia cắt. Gia đình tui ở phía bên kia, chẳng lẽ họ thả tui về Nam à ? Còn thả ở miền Bắc thì biết thả tui về đâu ?

- Về đâu là chuyện của bác. Hết hạn thì phải tha.

- Ðâu có rứa được. Thả ra để tui đi lang thang tuyên truyền phản động à ?

Cứ như thể tôi đang nói chuyện với một cán bộ tuyên huấn vậy.

Tôn Thất Tần không nghĩ tới ngày về. Ông sống bởi vì ông chưa chết.

- Có số cả đấy anh ạ ! – ông nói khi ngồi bên cạnh tôi đang thoi thóp trong một trận dịch kiết lỵ làm chết cả chục tù trong trại. – Xem ra số anh số tui còn sống dai lắm.

Trận dịch bắt đầu từ chuyến tù hình sự được chuyển bằng xe ca từ trại Hà-Nam-Ninh (5) lên. Trong đám tù nhét chặt cứng trong xe có một người đang hấp hối vì bệnh kiết lỵ. Người hấp hối thì để cho họ được chết yên, còn chuyển lên làm gì, tôi không hiểu. Chắc hẳn người ta muốn tống khứ tất tật đám tù cũ đi để giải phóng mặt bằng đón tù mới. Anh tù hấp hối không phải nhập trại, mà được đưa thẳng vào nhà xác. Ðàng nào thì y cũng không trốn được nữa rồi. Ði còn chẳng nổi, nói gì trốn.

Ban đêm người hấp hối tỉnh lại, kêu gào thảm thiết. Nằm trong nhà giam tôi nghe tiếng y kêu khàn khàn yếu ớt như tiếng mèo. Chẳng có ai trong số lính gác rẽ vào xem y làm sao. Sáng ngày ra không thấy y trong nhà xác, mới đi tìm thì thấy y nổi lềnh bềnh trong bể nước. Thì ra y khát, gào mãi chẳng thấy ai đến. Y liền bò ra ngã xuống bể nước và chết chìm trong đó. Những người tù nói lính gác sợ cái nhà xác. Ðồn rằng ở đó có ma. Những con ma tù không giống các loại ma khác, chết rồi chúng vẫn cứ luẩn quẩn ở nơi chúng qua đời. Tại sao không còn gì kiềm tỏa mà chúng không về nhà thì không ai giải thích được. Vào những buổi mơ thâm tối trời hay là sáng trăng suông lại hiện lên dọa lính, lính sợ bỏ chạy thì chúng cười khanh khách.

Trong trại Tân Lập có một số bể chứa nước cho trại viên dùng. Nước được bơm từ trạm thủy điện đặt bên ngoài trại vào trong các bể trong một hệ thống bình thông nhau.

Buổi sáng bắt đầu trận dịch: Toàn trại ngã bệnh. Không có thuốc, hết người này đến người khác theo nhau ra bãi tha ma dành cho tù.

Thêm một lần tôi được mục kích sức đề kháng mãnh liệt của cơ thể Việt Nam. Những người tù ốm vốn đã gày còm vì thiếu ăn vật vờ ngoài sân trại như những bộ xương biết đi, chẳng được chữa chạy gì, chẳng có thuốc gì để uống, mà không chết.

Khi dịch tắt thì đến lượt tôi bị bệnh. Trong thời gian có dịch tôi rất giữ gìn, không dám dùng một chút nước lã nào, đến cả nước rửa mặt đánh răng cũng dùng nước đã đun sôi. Nhà bếp ưu ái tôi, tôi muốn xin bao nhiêu nước chín cũng được.

Kiết lỵ là một bệnh rất khó chịu. Sức khỏe xuống rất nhanh cùng với những cơn đau quằn quại. Diệp Bản Minh, Tôn Thất Tần, cả hai ông nông dân phản cách mạng Phún Nàng Cái và Lầm Xì Lần đều lo cho tôi. Chốc chốc mở mắt ra tôi lại thấy hoặc người này hoặc người kia ở bên mình. Trần Chấn Hoa những ngày ấy chuyển đi chỗ khác – y sợ lây. Vả lại, y cũng chán. Tôi kín như bưng. Chẳng có thể gợi ở tôi câu gì. Ðôi khi, sốt ruột, y hỏi thẳng vào chuyện vụ án. Tôi bảo công an dặn đây là bí mật của Ðảng không được nói với ai, thế là xong.

Một đêm tôi thức giấc vì nghe mơ hồ có tiếng người gọi.

- Ai đấy ?

- Em đây, Cao đây !

Trong bóng đêm tôi thấy một bóng người lờ mờ cúi xuống. Cái bóng ghé sát tai tôi:

- Anh ơi, anh đừng chết !

Tôi bật cười. Làm sao có thể đừng chết được ? Chết là cái không thể đừng. Sức mạnh của cái chết là không thể ngăn cản.

Cao ghé người nằm xuống. Ðó là một thanh niên nhỏ bé, nhưng rất nhanh nhẹn, bị tập trung cải tạo với tội danh biệt kích. Tôi không hiểu tại sao Cao bị tập trung cải tạo. Nhưng tôi cũng chẳng buồn tìm hiểu. Trong nhà tù có quá thừa những điều làm tôi ngạc nhiên. Ðây là nơi tập trung những điều phi lý nhất nhưng có thật. Nói theo cách Descartes (6), chúng tồn tại chỉ vì chúng hữu hình.

- Trong trại chỉ có hai người Cộng Sản là anh và em. – tôi nghe tiếng Cao thì thào bên tai – Em có trách nhiệm bảo vệ anh.

Tôi cố cựa quậy cánh tay nặng như chì để nắm lấy tay Cao :

- Cảm ơn em.

- Em đã bàn với bác Tần. Bác với em sẽ cố gắng chăm nom anh để anh chóng khỏe…

Tôi cười cay đắng. Giờ đây tôi có hai người đang ra sức giúp tôi chống lại cái chết: Một phản cách mạng và một Cộng Sản.

Sáng hôm sau, theo lời khuyên của Cao, tôi viết một bức thư gửi về cho gia đình để gia đình xin thăm đột xuất, mang thuốc cho tôi. Tôi viết, không mấy tin tưởng ở kết quả bức thư. Nó đến được hay không là một chuyện. Nhà cầm quyền có cho gia đình lên thăm tôi hay không là chuyện khác. Bức thư đã đến. Vợ tôi tức tốc lên ngay. Bằng cách nào Cao gửi được bức thư tôi không biết. Chắc Cao bàn với Dịp Pún Mằn và gián điệp quốc tế đã liều mạng để cứu tôi.

Từ hôm đó hàng ngày đi làm về là Cao đến giặt giũ quần áo cho tôi, lo lắng cơm nước cho tôi, mặc dầu Cao ở một toán khác. Tôi được ăn nhiều rau hơn, thức ăn ngon hơn, cơm cũng nhiều hơn, có hôm là ngô tươi. Thức ăn của trại được hâm lại, nóng hổi. Trong bữa ăn, Tôn Thất Tần và Cao ngồi bên, khuyến khích tôi ăn từng miếng.

Tôn Thất Tần mách tôi :

- Anh phải ngăn thằng Cao. Ai lại nó leo vào cả vào trong kho của Ban lấy cắp mì chính, muối, cả ngô nữa. Họ mà bắt được thì chết !

Cao nghe tôi trách, cười hì hì :

- Nghề em mà, anh đừng lo.

Lúc ấy tôi chưa biết Cao là chiến sĩ đặc công.

Cũng trong những ngày này Cao kể cho tôi nghe vì sao cậu ta mang tội danh biệt kích.

Hai năm trước, tại vùng chiến thuật 1 (7), tiểu đội trinh sát của đơn vị đặc công mà Cao là tiểu đội trưởng đang len lỏi trong rừng thì gặp một trung đội thám báo địch từ trực thăng đổ xuống. Một trận tao ngộ chiến dữ dội nổ ra. Kém hẳn đối phương về quân số và trang bị, các chiến sĩ trong tiểu đội Cao lần lượt ngã xuống. Còn lại một mình Cao và một đồng đội bị thương nặng. Cao bắn trả cho tới khi khẩu AR15 hết đạn. Ðúng lúc Cao đập khẩu súng, cõng đồng đội xông ra để cướp khẩu súng khác quyết tử với địch thì viên sĩ quan phía bên kia kêu lên :”Không được bắn ! Phải bắt sống !”

Ðưa Cao về vị trí đổ quân, viên sĩ quan ra lệnh cởi trói cho Cao, rồi rót rượu mời Cao :”Tôi hân hạnh được mời rượu một người anh hùng ! Hãy bỏ qua một bên những bất đồng chính kiến, chuyện bên này bên kia, để uống với tôi, một người Việt, đồng bào anh !”. Cao uống. Theo yêu cầu của Cao viên sĩ quan chôn cất cẩn thận các bạn đồng đội của Cao trước mặt Cao, rồi gửi trực thăng đưa Cao về Sài Gòn.

Cao bằng lòng chiêu hồi. Quân đội Sài Gòn cho Cao đi học tại khu biệt kích Long Thành. “Không dễ dàng gì mà vào trinh sát trong một trường huấn luyện biệt kích của địch, Cao nghĩ. Mình tương kế tựu kế vào trong đó tìm hiểu rồi trở về báo cáo với trên, hóa hay !”. Xong lớp huấn luyện Cao được ném ra miền Bắc, xuống khu vực Yên Bái. Sau khi giết toán trưởng biệt kích, Cao ôm điện đài chạy ra quốc lộ, giơ súng chặn một chiếc xe tải, bắt chở thẳng về Hà Nội.

Cao được đón tiếp tử tế, được nuôi nấng chu đáo, sang trọng nữa là khác, trong suốt thời gian ngồi ở cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Người ta bảo Cao viết lại toàn bộ những gì cậu ta trinh sát được tại khu Long Thành. Viết xong thì cán bộ quân pháp tới bắt đi giao cho bên công an. Ðó là lý do vì sao Cao có tội danh biệt kích mà không có án hình.

Tôn Thất Tần biết chuyện, lắc đầu:

- Người ta đối với cậu rứa tệ quá !

- Thế người ta đối với bác không tệ à ?

- Tui khác, cậu khác. Tui là phản cách mạng. Cậu là cách mạng.

Sau khi bị tôi trách, Cao không dám leo vào kho công an ăn trộm nữa. Có vẻ cậu ta coi ý kiến của tôi là mệnh lệnh cấp trên, không thể cưỡng.

Cơn bệnh qua, tôi ăn giả bữa, lúc nào cũng thấy đói. Tôi không nghĩ tới cái gì khác ngoài miếng ăn. Thèm đủ thứ. Thậm chí nghĩ tới một miếng cháy nước dãi đã ứa ra.

Còn nhớ một hôm toán tôi được lệnh đi chữa nhà cho Ban Giám thị, mấy ông bạn tù già mừng rơn khám phá ra lu nước gạo của Ban đầy cơm thừa đổ đi lẫn lộn với trăm thứ bà dằn khác. Tôi được phân công ở trên mái để dặm lại mấy chỗ tranh mục, đồng thời canh chừng cho các bạn tù xột xệt(8) bên dưới. Tôi vờ cặm cụi làm, nhưng mắt vẫn bao quát một vùng chung quanh. Chỗ cơm thừa trong phút chốc đã trở thành nồi cháo ngon lành, tuy phảng phất mùi chua của dấm bỗng.

Ở bên dưới người ta gọi lên:

- Bác Hiên ơi ! Bác xuống ăn với chúng tôi.

Tôi cảm thấy ruột gan cồn cào, nhưng tôi rùng mình khi nghĩ tới lu nước gạo.

- Cảm ơn các bác. Các bác cứ ăn đi. Ðể tôi gác cho.

- Chúng tôi sẽ để phần bác.

- Tôi không ăn đâu. Mấy bữa nay bụng dạ tôi không tốt.

- Vậy cũng được. Chúng tôi ăn hết nhá ?

Trong nhà tù cuộc đánh nhau với bản thân không bao giờ kết thúc. Chỉ có thể thắng từng trận một. Câu chuyện năm xưa với ông Ðặng Xuân Thiều trở về trong trí nhớ. Biết ông được các đồng chí gọi là “anh hùng thành Ký Con (9)”, vì ông đã chịu đựng được hai mươi bảy trận đòn tra liên tục, tôi hỏi ông:

- Chú ơi, làm thế nào mà chú chịu đựng giỏi thế ?

Ông cười hà hà:

- Giỏi gì ! Tao cứ cố chịu từng trận một, Chịu được đến đâu biết đến đấy. Có thể trận thứ hai mươi tám thì tao gãy, biết đâu đấy, ai dám nói chắc, nhưng chúng nó mệt, chúng nó bỏ cuộc thì tao được anh em bốc lên tôn làm anh hùng, chứ anh hùng cái gì đâu …

Ông không khiêm tốn giả vờ. Ông nói sự thật “chúng nó mệt, chúng nó bỏ cuộc”, nhưng chất anh hùng thật lại ở chính trong lời thú nhận “biết đâu đấy, ai dám nói chắc”. Cái chất ấy ông vẫn giữ được khi cách mạng thành công rồi, có thể nhân danh những hy sinh để đòi hỏi đãi ngộ. Là anh em với tổng bí thư Trường Chinh, ông có thể kiếm được một chức to hơn chức vụ trưởng, nhưng ông thích làm vụ trưởng Bảo tồn bảo tàng để chăm lo cho những gì tổ tiên để lại không bị mai một. “Thấy đền chùa bị phá nhiều quá, tao sót, ông nói. Hết Bắc thuộc lần thứ nhất đến Bắc thuộc lần thứ hai, rồi trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến tranh khác, các công trình kiến trúc của các cụ có còn được là mấy. Phải có người giữ gìn chứ !”

Những tấm gương của thế hệ đi trước nâng đỡ tôi rất nhiều trong những năm tù, từ ngày đầu tiên cho tới ngày cuối cùng. Khi bị những cơn đói dày vò tôi thường nhớ tới các bậc tiền bối cách mạng đã chịu đựng thế nào trong nhà tù đế quốc để động viên mình vượt qua sự khốn khó.

Những cơn đói cồn cào vào cái đận giả bữa bớt hành hạ tôi còn nhờ những ván cờ của Tôn Thất Tần. Về cờ tướng tôi không đáng học trò ông. Nhiều hôm, mải đánh cờ, tôi quên cả ăn. Tôi quên thì đã có Cao nhớ. Thấy chúng tôi đang mê mải chơi cờ cậu ta vác bát ra lĩnh cả cho tôi lẫn Tôn Thất Tần.
Tôi cũng thích để Cao nhận phần cơm cho chúng tôi. Tuy việc chia cơm trong các toán số lẻ có tiếng là công bằng, nhưng không phải vì thế mà được phép lơ là. Cao không hổ danh chiến sĩ trinh sát. Mắt cậu ta tinh như mắt mèo, không cho phép ai qua mặt.

Tù số lẻ chia cơm bằng cân. Người ta làm lấy một cái cân thô sơ để cân cơm. Cái cân tự tạo giống như cân tiểu ly, chỉ cần thêm hoặc bớt một chút xíu cơm bằng đầu ngón tay là nó đã mất thăng bằng. Tù số chẵn, dù boọc, dù có án, đều nhìn cái cân bên số lẻ bằng con mắt khinh bỉ. Quen ăn tiêu về nhiều ngoài xã hội, họ coi cái sự cân cơm là ti tiện. Tù số chẵn dùng bát để đong khi chia cơm, bát vục mạnh thì cơm được nêm chặt, vục yếu thì cơm xốp, cho nên suất cơm của các sĩ quan bao giờ cũng lớn hơn suất cơm lính.
Về chuyện chia thịt thì cả số lẻ lẫn số chẵn đều chia như nhau, theo cùng một cách. Tù sắp bát thành hàng, người chia thịt chọn từng miếng đều nhau gắp vào mỗi bát. Chia cho thật đều rất khó vì nhà bếp chặt miếng to miếng nhỏ, miếng nạc miếng xương, không bằng nhau. Người ta giải quyết chia cho công bằng bằng cách viết tên cả toán vào một mảnh giấy, một người cầm mảnh giấy quay lưng lại những bát thịt đã được chia, một người khác gõ bất ưng vào một cái bát nào đó, người cầm giấy xướng lên một cái tên, thế là người có tên lĩnh phần thịt mang đi. Cách này gọi là quay mặt đặt tên. Như thế, mỗi lần trại cho ăn thịt là mỗi lần mình phải nhận phần trong bát người khác. Có những cái bát cóc cáy, nhìn mà ghê, lúc đầu tôi rất sợ, mãi mới quen. Mọi người đều cho rằng Tôn Thất Tần bị lao phổi, nhưng đến bữa có thịt, người nào vớ phải bát của Tôn Thất Tần cũng vẫn ăn ngon lành như thường. ê trong tù mà khắt khe chuyện vệ sinh cũng chẳng được. Ðã ở tù thì phải chịu ở lẫn với đủ thứ bệnh tật. Trong trại có cả người hủi. Anh ta ở chung với mọi người, nhưng chưa thấy ai bị lây. Về sau, gặp được viên giám thị tốt bụng, anh ta được ở cách ly trong một phòng con tí xíu ở đầu hồi trạm xá(10) và từ đó thôi không phải đi lao động hàng ngày nữa.

Trong trại giam dù anh có án hay anh boọc, dù anh mang số lẻ hay số chẵn, dù anh là tù thường hay tù binh, đều là tù tuốt. Tù thì phải lao động. Nhưng nếu lao động để mà sống thì chuyện dễ hiểu. Khó hiểu ở chỗ lao động cải tạo kia.

Người nước ngoài thường có sự hiểu lầm cụm từ lao động cải tạo. Họ tưởng chỉ có tù mới phải lao động cải tạo. Hoàn toàn không phải thế. Sau năm 1950, biên giới Việt – Trung thông thương, khái niệm lao động cải tạo được du nhập vào Việt Nam lần đầu. Nó tới cùng với sự học tập giáo trình Lịch Sử Tiến Hóa Nhân Loại, trong đó Charles Darwin(11) được nhắc đến một chút, Mác và Engels một chút, còn lại là sự phát triển tư duy của Mao Trạch-đông và các lý thuyết gia nội hóa. Chúng tôi, con cháu loài khỉ(12), phải biết ơn lao động, mà là lao động chân tay kia, chứ lao động trí óc không được tính đến, nhờ có nó mà tổ tiên chúng tôi mới thành người.

Câu nói “Trí thức mà không có thực hành giá trị không bằng cục phân” của Mao chủ tịch được nhắc đi nhắc lại là trong thời kỳ này. Người mác-xít chỉ biết có một thứ trí thức ứng dụng, trí thức lý thuyết là đồ bỏ. Trong chính sách cán bộ, khi xem xét khả năng cán bộ để cất nhắc, để điều động, tiêu chuẩn lao động chân tay được coi như một thử thách không thể thay thế. Nói cách khác, người ta thành tín cho rằng có thể cải tạo con người bằng lao động. Thành thử cán bộ bên ngoài cũng phải đi lao động chân tay thường xuyên, gọi theo cách Trung Quốc là hạ phóng. Tôi đã hạ phóng một lần về mấy xã huyện Ðông Quan tỉnh Thái Bình với ông Nguyễn Ðức Quỳ, thứ trưởng Bộ Văn Hóa. Chúng tôi đi cầy, đi cấy, be bờ, tát nước cùng với nông dân. Tôi làm giỏi hơn các cán bộ thành phố nhờ những năm ở làng với bà cô trọn đời đồng trinh. Nhưng cả tôi, cả ông thứ trưởng có học đều không tin lao động có thể làm cho chúng tôi người hơn con người chúng tôi hiện có. Cứ tới thứ bẩy, chủ nhật là chúng tôi lấy cớ đi họp trên tỉnh để lên thị xã Thái Bình tắm nước nóng.

Người tù, theo quan điểm của các nhà lãnh đạo, lại càng cần phải cải tạo bằng lao động. Họ cho rằng người tù bị tù là do có những tư tưởng xấu, tư tưởng địch, nếu chịu khó lao động, anh ta có thể tự cải tạo mình để trở thành người tốt. Những người tù chăm chỉ lao động được giảm án nhiều hơn những người tù lười lao động. Những người yếu đuối không có khả năng lao động cũng bị coi là lười, đâm ra bị thiệt.

Toán tôi là toán tạp dịch, nay đi nhổ cỏ lúa, mai đi cuốc ruộng. Từ trong xà lim ra, bốn năm có lẻ không đụng tay đụng chân đến việc gì, nay cầm cuốc cầm cày, tôi rất mệt. Nhưng tôi cố gắng để không kém mọi người, bởi vì công việc được khoán theo tổ (nhóm nhỏ), mình làm ít thì người khác làm nhiều. Hơn nữa tôi không muốn để cho những kẻ muốn hành hạ tôi được thấy tôi khổ sở vì lao động vất vả. Tôn Thất Tần biết ý, nói nhỏ với anh em bên cạnh chỉ làm túc tắc thôi, đạt mức thì tốt, không đạt thì thôi, cho tôi nương vào. Ðược cái người ta chỉ có thể quở trách một cá nhân làm không đạt mức, chứ khi cả tập thể không đạt thì huề, bao giờ cũng có cả đống lý do để mà biện bạch.

Một hôm toán được phân công cuốc đồi trồng sắn. Trời nắng chang chang, quanh chỗ làm không một bóng râm, đồi lại toàn sỏi lổn nhổn, tôi vừa làm vừa thở hồng hộc. Quản giáo ngồi nấp dưới một cây sắn còn sót lại, phanh áo ra mà quạt, mặt đỏ lựng. Khi được lệnh nghỉ, tôi nằm vật ngay ra chỗ đất vừa cuốc, thiếp đi. Tôi mơ thấy mình đang nằm bên một dòng sông trong vắt, nước ụp oạp mênh mông, cái transistor đặt trên bụng. Từ trong máy phát ra bản Concerto Số Một của Tsaikovsky(13) do Van Klibern chơi. Tôi đang sung sướng tận hưởng khúc nhạc tuyệt vời, nhờ nó Van Klibern được giải thưởng quốc tế về dương cầm năm 1956, được nước Mỹ trải thảm đón mừng, được tổng thống Mỹ đích thân tiếp, thì nó nhỏ dần rồi mất hẳn, như thể sóng điện bị lạc. Tôi cuống quít vặn núm đài nhưng không tìm ra. Tỉnh dậy, thấy tay mình vẫn còn đang loay hoay cái núm vô hình, trên đầu mắt trời chói lòa.

- Anh ngủ tài thiệt ! – Tôn Thất Tần nói – Ðược một giấc rồi đấy.

Tôi đứng lên, bàng hoàng. Dưới chân tôi là một hình người in rõ nét trên mặt đất lổn nhổn.

- Tôi được một giấc mơ đẹp.- tôi nói – Hoài của, có một bản nhạc hay ơi là hay mà không nghe được hết. Bác không chợp mắt một chút à ?

- Chợp răng được. Nắng rọi vào mắt như ri. Tui đang mải ngắm con trâu.

Chênh chếch dưới chân chúng tôi một con trâu đang lười biếng vặt từng nạm cỏ hiếm hoi. Cái đuôi trần trụi với túm lông thưa quật đi quật lại không mệt mỏi.

- Nó có gì lạ ?

- Tui ghen với nó. Nó sướng quá !

- Sướng cái gì chứ ?

Một nụ cười chua chát thoảng bay trên khóe miệng “Jean Valjean gọi bằng cụ” :

- Nó không bao giờ phải cải tạo. Ra đời đã lao động rồi. Ðỉnh cao của vinh quang (14) ! Loài người từ khỉ mà lên nhờ lao động. Chúng mình lao động mãi như ri rồi sẽ tiến lên loài chi nhỉ ?

(1) Nhân vật chính trong cuốn Những Người Khốn Khổ (xuất bản năm 1862) của đại văn hào Pháp Victor Huygo (1802-1885).
(2) Món ăn vùng Trung Á
(3) Nguyên thứ trưởng Bộ Y Tế nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
(4) Việc không cho tù được đọc sách còn lại cho tới bây giờ. Năm 1995, khi Hoàng Minh Chính bị bỏ tù (xã hội chủ nghĩa) lần thứ ba, ông muốn đọc các sách về luật pháp để tự bào chữa khi ra tòa người ta cũng không cho. Kể cả đến cuốn sách về luật Việt Nam do Nhà xuất bản Pháp lý (của Nhà nước) ấn hành ông cũng không được nhận.
(5) Một tỉnh gồm Nam Ðịnh, Ninh Bình và Hà Nam nhập lại dưới thời Lê Duẩn.
(6) René Descartes (1596-1650), triết gia Pháp. Câu nói nổi tiếng của ông :”Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”.
(7) Vùng từ Quảng Trị – Thừa Thiên kéo dài tới Ðà Nẵng.
(8) Tiếng lóng trong nhà tù = nấu nướng.
(9) Tên thành phố Hải Phòng do những nhà cách mạng tiền bối đặt.
(10) Nơi chữa bệnh cho tù, bệnh xá.
(11) Charles Robert Darwin (1809-1882), nhà cách mạng trong sinh vật học, giải thích sự tiến hóa của nhân loại theo quan điểm duy vật.
(12) Vì nghe thế nó… khỉ quá, nên ông Trần Văn Giàu đã sửa lại trong giáo trình Duy Vật Lịch Sử của ông thành hầu nhân.
(13) Tchaikovsky Piotr Ilich (1840-1893), nhà soạn nhạc nổi tiếng người Nga
(14) Khẩu hiệu của Ðảng : “Lao dộng là vinh quang !”.

Tài liệu do Nhà thơ Trần Mạnh Hảo gửi cho mxd blog 
                                   và
Tài liệu do Nhà thơ Trần Mạnh Hảo gửi cho NTT blog

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP-CÂY ĐẠI THỤ CUỐI CÙNG





Không trừ một người nào, ngoài những người bạn, trên đời ai cũng có kẻ thù.Tướng Giáp cũng vậy, trong quá khứ ông từng là kẻ thù của các tướng lĩnh Pháp (1954), Mĩ (1975), Trung hoa (1979). 
Muốn tìm thấy phẩm chất thật sự tin cậy về ai, cách hay nhất là hãy nghe kẻ thù nói về người đó.

Marcel Bigeard, vị tướng cựu thù của tướng Giáp từng tham gia chỉ huy quân đội Pháp trong trận chiến Điện Biên Phủ nhận xét: “Tướng Giáp đã chỉ huy quân đội của ông thành công trong hơn 30 năm. Điều này tạo thành một sức mạnh chưa từng có...”. 
Về sau, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Pháp – Đại tướng Marcel Bigeard khẳng định: “Tôi tin rằng cuộc đời và sự nghiệp đầy huyền thoại của đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi mãi là tấm gương, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam”.
William Westmoreland từng là tổng tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam cho rằng: “Những phẩm chất làm nên một nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại là khả năng đưa ra quyết định, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung và một trí tuệ hội tụ được những phẩm chất này. Tướng Giáp đã sở hữu tất cả”.
Đại tướng Anh Peter Macdonald, đồng thời là một nhà phân tích về chiến lược, trong cuốn "Giap an assessment" có viết: "Võ Nguyên Giáp đã có 30 năm làm tổng tư lệnh quân đội và gần 50 năm tham gia vào những suy tính chính trị ở cấp cao nhất. Tướng Giáp đã chứng tỏ những phẩm chất hiếm có trong tất cả những lĩnh vực chủ yếu của chiến tranh”.
Khi được tin tướng Giáp từ trần, Ngoại trưởng Pháp Fabius rất xúc động. Theo ông, Tướng Giáp là “một nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam, được cả dân tộc Việt Nam yêu mến và kính trọng”. 

Tuy nhiên các nhà phân tích lịch sử chưa dễ thống nhất về những gì người ta viết và nói về tướng Giáp.
Người ta có thể bàn cãi về việc ông được phong đại tướng khi chưa từng học qua một trường cao cấp võ bị, hoặc tranh cãi về tài năng quân sự của ông.
Người ta có thể tranh cãi về sự trung thành của ông với chủ thuyết cộng sản có lợi cho đất nước Việt nam hay không.
Người ta có thể không đồng tình với thái độ quá nhẫn nại của ông trước sự truy bức của chính những người “đồng đội” của ông.
Nhưng, không ai có thể nghi ngờ sự kính trọng, tiếc thương của dân chúng khi hay tin ông qua đời. Hàng ngàn, vạn người dân đổ đến Hà nội viếng ông tại tư gia không cần sự chỉ đạo, tổ chức của nhà nước. Có lẽ đó là tấm huân chương cao quý nhất mà đất nước này, dân tộc này dành cho ông chứ không phải là bất cứ một thứ huân chương nào khác.

Trước ông đã có những lãnh tụ đảng, nhà nước, tướng lĩnh cao cấp của quân đội qua đời nhưng rõ ràng chỉ có tướng Giáp mới giành được sự ngưỡng mộ lớn lao của quần chúng nhân dân.
Quá nhiều bài viết về phẩm chất đạo đức, tài năng , đức độ của ông nhưng có thể đọc một bài thơ của một họa sỹ, nhà văn nhân dân, một blogger quen thuộc với mọi người là Đông Ngàn Đỗ Đức để thấy tầm ảnh hưởng của đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với quần chúng nhân dân thế nào:

CẢM XÚC

Cây đại thụ cuối cùng đổ xuống
Cánh rừng hoang hở hoác một vùng trời
Chỉ còn bạt ngàn những cây chó đẻ
Qua một mùa là khô héo thành phân

Cao hơn cỏ nhưng không bền như cỏ
Đó loài cây chỉ sống một mùa.
6/10/2013


Ảnh: Phóng viên báo đảng đang tác nghiệp (tại 30 Hoàng Diệu)

Trong dòng người dường như vô tận đến tiễn biệt tướng Giáp là đủ mọi thành phần dân chúng. Điều tôi nhìn thấy là những bàn chân. Hàng ngàn bàn chân đi dép, hàng ngàn bàn chân đi giầy cũ mòn kiên nhẫn xếp hàng dài dằng dặc để một lần được đến đứng trước bàn thờ tướng Giáp tại tư gia ở 30 đường Hoàng Diệu. Chưa bao giờ có chuyện như vậy và điều đó mang hình hài một cuộc duyệt binh nhân dân, một cuộc binh biến không súng của niềm tin.

Lưu ý: tướng Giáp là một vị khai quốc công thần số một Việt nam đã công khai phản đối dự án Bô xít Tây nguyên, người đã công khai chỉ ra hiểm họa mất nước từ một số những kẻ cầm quyền phương Bắc và chưa từng có một vị lãnh đạo cao cấp của đảng, quân đội như ông từ chối nơi an nghỉ cuối cùng là nghĩa trang Mai Dịch-nơi dành cho các nguyên thủ quốc gia hàng đầu ở Việt nam. 

Mai Xuân Dũng.

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Thư gửi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Lý Trung Nam 

Trước đây nhiều người thường nói ông là lú lẫn, tôi không tin, vì chắc đây là thế lực thù địch, lợi dụng dân chủ để làm diễn biến hòa bình (nói như các ông hay nói). Tuy nhiên thời gian gần đây tôi có theo dõi những phát ngôn của ông thì tôi thấy “bọn thế lực thù địch” nói có lý.

Bởi lẽ, trước đây ông khuyến khích người dân tham gia đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp năm 1992, người dân góp ý, ông không thèm lắng nghe, mà còn dọa nạt người ta. Ngày 25/2 ông phát biểu tại Phú Thọ và tỉnh uỷ Vĩnh Phúc:

“…Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy! Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng nữa. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa, chỉ ở đâu nữa nào? Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể… thì nó là cái gì?! Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này”.

Ngay lập tức, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên và nhiều người phản đối, ông lại chỉ đạo Báo GĐ-XH đuổi việc nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, việc làm này tôi không thấy ở bậc quân tử, ông ạ. Sau đó một thời gian dài, ông rất ít xuất hiện trên báo chí lề đảng. Chắc là Bộ Chính trị bắt ông ở nhà để chỉnh đốn, phê và tự phê; hay do sức khỏe của ông có vấn đề?

Ông ạ, theo tôi, người dân phản đối là đúng bởi lẽ họ góp ý Hiến pháp, chứ có góp ý Cương lĩnh của đảng nhà ông đâu, mà ông hù dọa người ta, ông lấy tư cách gì để làm việc đó?

Thời gian gần đây, ông lại xuất hiện nhiều, nói năng thiếu suy nghĩ, lú lẫn. Tại buổi tiếp xúc cử tri ngày 27 -28/9/2013 tại Hà nội, ông đưa ra nhiều khái niệm mới làm người dân thất vọng.

“Tham nhũng lớn cũng có, tham nhũng vặn cũng nhiều kiến người dân như bị ngứa ghẻ” và ông coi “Hiến Pháp, …Văn kiện chính trị pháp lý quan trọng bậc nhất sau Cương lĩnh của đảng”.

Theo tôi đoán, ý ông là: Tham nhũng thì chỗ nào cũng có, rất khó chịu. Nếu hiểu theo dân gian thì cái gì không quan trọng, bình thường thì thường xem như chuyện ghẻ lở. Có nghĩa ngứa ghẻ là chuyện bình thường; người bị ghẻ cắn thỉ bực bội, khó chịu chứ không chết; chỉ có con ghẻ là sướng, vậy con ghẻ trong trường hợp này là ai? là cán bộ, đảng viên của các ông chứ của ai, chẳng lẽ người dân lại có cơ hội tham nhũng? Không biết ông có nghĩ vậy không? Nhưng tôi và rất nhiều người đều nghĩ như vậy.

Ông coi Hiến pháp chỉ đứng sau Cương lĩnh của đảng, nhiều người buồn cười khi nghe một “Đỉnh cao trí tuệ” lại có tư duy kiểu ấy, càng chớ trêu hơn khi biết biết ông từng là người đứng đầu của cơ quan quyền lực nhất nước (Quốc Hội) mà lại suy nghĩ như vậy. Hóa ra từ trước tới giờ ông và đảng của ông toàn lừa rối dân; nay ông mới nói lên sự thật. Tôi thấy rất vui khi biết ông là người thật thà vì đã nói lên sự thật, mặc dù có thể là lỡ miệng. Bởi lẽ, nói dối, gian xảo là bản chất của những người “Đỉnh cao trí tuệ”; chẳng hạn lúc nào các ông cũng nói tự do, dân chủ; nhà nước là của dân, do dân, vì dân… nhưng nay ông lại nói toẹt ra bản chất nấy lâu các ông che đậy, (Cương lĩnh đứng trên Hiến pháp). Lấy một ví dụ để biết tính 2 mặt của các ông: Ở trong nước thì các ông tuyên tuyền nền kinh tế nước ta là kinh thế thị trường, định hướng XHCN; nhưng khi ra nước ngoài để vận động các nước công nhận VN là nước có nền kinh tế thị trường; các ông, ẻm đi đâu mất cái đuôi XHCN? Vậy, đây không phải là sự gian lận thì là gì, thưa ông?

Đảng của ông tư cách gì mà ngồi trên Hiến pháp và pháp luật, ai cho các ông sứ mệnh lãnh đạo đất nước?

Tôi không có bằng GS chính trị như ông, nhưng đủ kiến thức để phân tích một bài vở lòng để biết xem ĐCS lãnh đạo đất nước có chính danh hay không?

Những người có cùng chung chí hướng, hoài bảo muốn phục vụ dân dân, xây dựng, bảo vệ tổ quốc: A1, A2… An lập thành một đảng A; Những người cùng chung chí hướng B1, B2… Bn muốn có sức mạnh để cạnh tranh với đảng A thì lập ra đảng B; các đảng khác tương tự từ C đến N.

Các đảng A, B,… N muốn được quyền lãnh đạo đất nước thì phải cạnh tranh nhau một cách lành mạnh; người giao quyền đó chính là nhân dân thông qua lá phiếu; khi được nhân dân giao phó, được giữ các vị trí trong chính quyền thì mới được trả lương bằng tiền thuế của dân.

Một đất nước chỉ độc tôn một đảng, thì sự tồn tại của đảng đó không còn ý nghĩa, vì có đối thủ đâu mà phải hợp sức để cạnh tranh; nếu cố tình tồn tại thì sẽ trở thành chuyên quyền, độc đoán, ép người khác làm theo ý mình, có miếng bánh muốn ăn cả; cách này thường tồn tại ở các tổ chức xã hội đen, mafia; nhưng họ lại không tự tôn mình là đạo đức, là văn minh, là đỉnh cao trí tuệ, và đã được nhân dân giao phó, ông ạ.

Nếu ông cho rằng ĐCS có sứ mệnh lãnh đạo đất nước vì đã có công lãnh đạo nhân dân làm nên các cuộc cách mạnh đánh Pháp, Mỹ…thì lại càng sai lầm, bởi lẽ: Đó là cuộc cách mạnh của cả dân tộc, chứ đâu của mình ĐCS, thời đó Đảng viên các ông được mấy người; các nước khác quanh ta, như: Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Singapore… không có ĐCS thì họ bị áp bức, nghèo khổ hết à, thưa ông! Trước đây ông cha ta có ĐCS đâu mà vẫn làm được các cuộc cách mạng thần thánh. Đến nay người dân mới hiểu rõ, kết quả theo ĐCS chẳng qua là dọn đường cho Trung Quốc xâm chiếm đảo, đất liền, văn hóa như ngày nay.

Giả sử ĐCS có công với đất nước thì ĐCS cũng không có quyền lãnh đạo đất nước, nếu chưa được người dân lựa chọn thông qua trưng cầu dân ý một cách công khai, dân chủ. Theo tư duy của ông, thì cứ ai có công là được dẫn dắt người khác? nếu vậy thì cũng chưa đến lượt ĐCS; vì các vua, quan triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn có công đánh giặc, mở mang bờ cõi, đặc biệt là triều Nguyễn, thì con cháu của họ ngày nay có quyền lãnh đạo đất nước?”

Nếu các ông không phản biện được những chứng minh trên đây, chứng tỏ sự lãnh đạo của ĐCS là không chính danh, áp đặt, độc quyền, toàn trị, có miếng bánh muốn ăn cả; cách này thường thấy ở mấy ông xe ôm, đánh giầy kệ sức khỏe, luôn tìm cách độc quyền lãnh thổ làm ăn; cao hơn nữa là các tổ chức xã hội đen, mafia.

ĐCS đã không chính danh mà lại xảo trá, vì tiền thuế của dân chỉ nuôi chính quyền, chứ đâu có để đem đi nuôi mấy ông đảng của các ông; đáng ra các ông cảm ơn dân, thì các ông luôn lại dạy người dân ngay từ nhỏ cái gì cũng “cảm ơn đảng, chính phủ”, cách tư duy này đang ru ngủ người dân, đặc biệt là thế hệ cao tuổi, trẻ con và người dân nông thôn, miền núi.

Đáng ra người dân chỉ phải đóng thuế nuôi chính quyền, thì lại phải nuôi số lượng gấp 2, 3 lần bình thường, từ: Chi bộ thôn, Đảng bộ xã, huyện ủy, tỉnh ủy, Trung ương đảng, Bộ chính trị; các hội, đoàn thể: MTTQ, hội phụ nữ, nông dân, Đoàn TNCSHCM… từ trung ương tới địa phương.

Nếu bên UBND xây trụ sở, mua xe, thì bên đảng cũng xây nhà, mua xe to hơn, đẹp hơn. Cùng dự một cuộc họp ở tỉnh, hay ở TW; ông bên đảng, ông chính quyền mỗi ông mỗi xe đi đường dài hàng 100 km, thật là oai, nhưng lãng phí. Do ĐCS đẻ ra nhiều ban, bệ nên mới phức tạp, có nhiều đơn vị (sở, ban, ngành) có tới 9-10 ông GĐ, PGĐ mà lúc nào cũng thấy các ông ấy bận vì họp hành, tiếp khách; nhiều lúc vẫn thấy thiếu lãnh đạo. Bận là đúng thôi, có một vấn đề mà cứ họp hết các sở, sang UB, rồi sang các đoàn thể, cơ quan đảng, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy ông ấy, và nội dung ấy. Vì các ông ấy vừa là lãnh đạo sở, vừa là tỉnh ủy viên, thường vụ, hay trưởng, phó, thành viên ban chỉ đạo nào đó. Cách làm này chỉ làm khổ anh em chuyên viên giúp việc, gây lãnh phí thời gian, tiền của. Cứ lấy ví dụ các ông đi thăm một tỉnh một huyện nào thì rõ, mỗi lần các ông đi, các bộ, sở, ban ngành đi cùng, nhưng phần lớn chỉ là hình thức, chẳng đem lại hiệu quả gì. Do vậy, cán bộ cơ sở suốt ngày chỉ đón tiếp hết đoàn này sang đoàn kia, từ sở, ban, ngành, các đoàn thể, UBND, cơ quan đảng, thì lấy đâu ra thời gian làm việc. Chưa nói là quà cáp cho các ông, nếu không ăn bớt của dân thì lấy ở đâu ra làm các ông vui lòng.

ĐCS đã lấy tiền thuế của dân để nuôi các cơ quan đoàn thể, đảng chưa được sự đồng ý của dân, mà lại còn trả lương cho khối đảng cao hơn khối chính quyền 30-50%. Thực ra, có mấy ông sống được bằng lương, mà bằng chỉ trỏ, quy hoạch, luân chuyển.. cán bộ nên mới có “Tham nhũng lớn cũng có, tham nhũng vặn cũng nhiều kiến người dân như bị ngứa nghẻ “ công trình nào, dự án nào cũng có sai phạm, chưa cần nói công trình lớn, chỉ cần xem các công trình nhỏ ở miền núi, thì phần lớn là kém chất lượng, sai phạm; có nhiều công trình không làm mà vẫn cứ được thanh toán, vì lính của các ông ăn dày quá, nhà thầu hết vốn, bỏ của chạy lấy người; dân có kiện mãi cũng chán vì các ông chỉ giải quyết nội bộ trừ trường hợp lộ rõ mà các ông không đậy được hoặc các ông thanh trừ lẫn nhau; mà nếu có xử thì xử ai. Tôi lấy ví dụ nếu UBND xã, huyện làm chủ đầu tư công trình, thì hết ông cấp trên từ bộ, sở, UBND, tỉnh ủy, huyện ủy điện, gửi gắm thì làm gì công trình không kém chất lượng, các ông cứ đỗ lỗi tại một số nhà thầu kém chất lượng, các ông nói đúng vì: Các nhà thầu đó phần lớn đi cửa sau, đi đêm, con ông này, cháu bà nọ thì làm gì có năng lực; và nếu các nhà thầu có năng lực mà các ông cứ bóc như vậy thì họ còn đâu năng lực nữa. Trong khi lúc nào, ở đâu ĐCS của ông cũng tuyên truyền học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM, theo tôi các ông cũng nên dừng ngay việc này, vì càng làm càng lộ rõ bản chất; ông nên nghiên cứu bài “Thực hư việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM” rồi cả quyết định có nên tuyên truyền nữa không.

Việc nuôi nhiều ban ngành như vậy chẳng qua là ĐCS đang dùng chính sách chia kẹo, ai cũng có phần, tạo thành chân rết, chỉ vì tiếc cái kẹo mà để mặc các ông, bảo vệ ĐCS. Tuy nhiên, phần lớn lãnh đạo, cán bộ từ địa phương đến TW cũng không thích cơ chế, ngột ngạt khó chịu như hiện nay. Phần lớn họ có học, có suy nghĩ đúng đắn vì dân, vì nước, chứ không tư duy theo kiểu “Hiến pháp đứng sau Cương lĩnh của đảng” như ông nghĩ. Chẳng qua họ chưa liên kết được nên tạm lắng; vì còn sợ các ông nhớ lâu, thù dai, xảo trá, xử sự theo kiểu vứt bao cao su đã qua sử dụng. Bằng chứng là nếu báo chí lề đảng mà tôn trọng, trung thành với ông thì làm gì họ trích những phần nói năng xằng bậy của ông để cho thiên hạ biết, chê cười; hay làm gì có chuyện hàng chục tờ báo viết và điện tử đều viết sai cùng một từ “Hiến pháp” thành “Hiếp pháp”, nếu ông mà biết máy tính thì ông sẽ hiểu đây không thể là lỗi đánh máy được.

Với tư cách là một công dân, tôi viết đôi lời để giải bày tấm lòng vì dân vì nước và vì chính ông; mong ông lần sau có phát biểu để anh em viết trước chỉ có việc đọc thôi; hoặc đóng tất cả các báo đăng phần nói xằng bậy trước đây của ông, chí chính nó là thế lực thù địch làm diễn biến hòa bình; hay kiểm duyệt khắt khe hơn trước khi phát hành. Mà tốt hơn hết là giải nghệ, già rồi, lẫm cẩm, hãy về với nhân dân, tiếc gì chức vị cao nhất của đảng không chính danh, đã không chính danh thì càng làm cao càng lắm tội; người dân coi thường, lịch sử sẽ xét soi, mệt lắm./.


03/10/2013

Nguồn Dân luận

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

SOS: Công an tấn công nhà Blogger Nguyễn Tường Thụy

Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam
Đăng bởi lúc 7:22 Chiều 25/09/13

VRNs (25.9.2013) – Sài Gòn – SOS: 20 giờ 35: Blogger Gió Lang Thang cho hay, mọi người đang tập trung tại CA huyện Thanh Trì trụ sở 2 tại Liên Ninh, Thanh Trì để hỗ trợ những người bị bắt. Vợ bác Tường Thuỵ đang đòi công an cho gặp chồng và bà Tân đang đòi lại đồ đạc.

20 giời 30: Cùi Các đưa tin, Blogger Nguyễn Tường Thụy vừa mới cho hay: “Hiện nay ông vẫn đang bị câu lưu tại công an xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì. Tại đây, công an đề nghị ông hợp tác làm việc nhưng ông đã từ chối, bất hợp tác với công an vì lý do công an xông vào nhà bắt người trái pháp luật”.

Blogger Huỳnh Công Thuận nói: “Blogger Nguyễn Tường Thụy từ chối làm việc vì công an không hợp tác với người dân làm đúng theo quy định, chứ không phải người dân không hợp tác.”

20 giờ 15: Theo Blogger Gió Lang Thang cho biết, Blogger Trương Văn Dũng bị cướp máy ảnh và bị lôi đi. Khi Blogger Trương Văn Dũng đến nhà Blogger Nguyễn Tường Thụy yểm trợ mọi người.

20 giờ: Cùi Các cho biết, tin từ nhà văn Nguyễn Tường Thụy qua điện thoại: “ông cảm thấy lo ngại khi cả nhà ông bị bắt đi, không còn một ai ở canh giữ nhà trong lúc công an khám xét. Ông lo lắng sẽ có tài sản của mình bị đem ra khỏi nhà, nhưng tài liệu nguy hiểm thì được tuồng vào trong nhà.”

Chúng tôi vừa được báo, lúc 18 giờ 30, có gần 20 công an mặc thường phục và sắc phục đang đập phá cửa và đòi vào nhà Blogger Nguyễn Tường Thụy tại số 11, Nhà máy phân lân Văn Điển, Hà Nội để kiểm tra hành chánh, nhưng Blogger Nguyễn Tường Thụy không đồng ý. Được biết, trong nhà Tường Thụy gồm có mẹ con bà Dương Thị Tân, bà Nguyễn Thị Nhung, cô Nguyễn Phương Uyên, con bà Nhung,ông Lê Quốc Quyết, ông Thi bạn ông Quyết và ông Phạm Bá Hải.

Blogger Nguyễn Tường Thụy chụp với bà Dương Thị Tân, Nguyễn Phương Uyên và bà Bùi Thị Minh Hăng

Blogger Nguyễn Tường Thụy chụp với bà Dương Thị Tân, Nguyễn Phương Uyên và bà Bùi Thị Minh Hăng

Blogger Nguyễn Tường Thụy chụp với bà Dương Thị Tân, Nguyễn Phương Uyên và bà Bùi Thị Minh Hằng
Lúc 19 giờ 10, Blogger Cùi Các cho biết, Blogger Nguyễn Tường Thụy và vợ con ông, cũng như mẹ con bà Nguyễn Thị Nhung và Nguyễn Phương Uyên cùng với ông Lê Quốc Quyết đã bị công an bắt đưa về UBND xã Liên Minh, Thanh Trì, Hà Nội.

Nguồn: Dòng Chúa Cứu Thế Việt nam

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

NHÂN SĨ - TRÍ THỨC VIỆT RA TUYÊN BỐ ĐÒI CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ

Trà Mi
Theo VOA


Hàng trăm trí thức Việt trong và ngoài nước ngày 23/9 ra Tuyên bố chung yêu cầu nhà nước cải cách thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ, sửa đổi Hiến pháp, và tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân.
  
Tuyên bố Về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị ( Xem tại đây) được gửi tới các cơ quan lãnh đạo của đảng cộng sản và nhà nước và được công bố trên mạng xã hội nói thể chế toàn trị tại Việt Nam với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết điểm, quan liêu, và tham nhũng là nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng cho đất nước về nhiều mặt từ năng lực phát triển tới kinh tế, môi trường, văn hóa, lòng tin nhân dân đối với bộ máy cầm quyền, và cả vấn đề chủ quyền đất nước trước họa xâm lăng từ Trung Quốc.


Tuyên bố nhấn mạnh giải pháp cơ bản cho những thử thách hiểm nghèo của đất nước và dân tộc là phải cải cách thể chế, dân chủ hóa đất nước để phát huy đoàn kết và sức mạnh dân tộc.

Các nhân sĩ-trí thức đồng ký tên trong Tuyên bố nói đảng cộng sản Việt Nam tự nhận vì nước, vì dân, phải có trách nhiệm chủ động thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa, khởi đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp vốn bảo vệ quyền độc tôn lãnh đạo của đảng cộng sản.
  
Tuyên bố nói rằng nếu bản Hiến pháp đang được sửa đổi vẫn tiếp tục duy trì thể chế toàn trị thì dân tộc Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều hệ quả khôn lường, nỗi bất bình và thất vọng trong lòng dân càng gia tăng, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế càng giảm sút.

Bản Tuyên bố yêu cầu nhà nước Việt Nam tôn trọng nhân quyền trong đó có quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân và đề nghị nhà cầm quyền trao đổi, tranh luận thẳng thắn với các ý kiến phản biện.

Tuyên bố cũng đồng thời lên án các biện pháp chính phủ Hà Nội áp dụng để ngăn cấm, trấn áp các tiếng nói bất đồng quan điểm là vi hiến, đi ngược lại các Công ước đã ký với quốc tế, và “không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền”.

Tuyên bố hoan nghênh các kiến nghị công dân gần đây như Kiến nghị 72, Tuyên bố của Công dân Tự do, Tuyên bố phản đối điều luật 258 và khẳng định các biện pháp xây dựng ôn hòa, hợp pháp này thể hiện lòng yêu nước và khát vọng dân chủ của các tầng lớp nhân dân.

Trong Tuyên bố của mình, các nhân sĩ-trí thức cũng kêu gọi xây dựng một Diễn đàn Xã hội Dân sự nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị, thúc đẩy xã hội dân sự Việt Nam phát triển theo yêu cầu của một quốc gia dân chủ.
Nhà báo Phạm Chí Dũng, một trong những người ký tên đầu tiên vào Tuyên bố, nói với VOA Việt ngữ:

“Xã hội dân sự là con đường của tương lai Việt Nam, không thể khác được. Một đất nước không có nền tảng dân sự và một nhà nước pháp quyền thì không thể tồn tại được, đặc biệt trong bối cảnh một nhà nước toàn trị như hiện nay. Khi đặt bút ký vào Bản Tuyên bố Về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị, không chỉ cá nhân tôi mà nhiều trí thức, nhiều anh em khác luôn mang trên mình một hoài bão, một nguyện vọng là làm sao để đất nước tránh được những sự lộn xộn. Xã hội dân sự là nền tảng để xây dựng nền văn hóa cho dân tộc Việt trong tương lai chứ không phải một nền chính trị vọng ngoại hay một nền chính trị lộn xộn, đấu đá nội bộ lẫn nhau. Con đường của Việt Nam trong có thể là 15 hay 20 năm tới sẽ chỉ là vấn đề ‘xã hội dân sự’ để tạo ra sự đối trọng cần thiết đối với chính quyền, tác động, điều chỉnh chính sách và cả con người trong chính quyền như những gì xã hội các nước Bắc Âu đã làm được trong thế kỷ 20.”

Về hiệu quả mong đợi từ Tuyên bố Về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị, báo Phạm Chí Dũng cho rằng:

“Tôi e rằng tính hiệu quả còn manh nha, chưa cao lắm trong buổi gần như là tiền đề, tiền thân của xã hội dân sự tại Việt Nam. Thật sự hiện nay tại Việt Nam chưa có xã hội dân sự. Muốn có xã hội dân sự, cần có những tổ chức dân sự. Muốn có những tổ chức dân sự cần phải có những nhóm dân sự. Những vấn đề đó ở Việt Nam còn rất manh nha. Cho nên, chủ đích của Diễn đàn Xã hội Dân sự và Tuyên bố này, theo tôi, chỉ là những điều kiện đầu tiên tiền đề. Chúng ta cần phải có nhiều cố gắng tiếp theo để xây dựng không chỉ một Diễn đàn Xã hội Dân sự trên mạng mà còn là những Diễn đàn công khai truyền bá tư tưởng xã hội dân sự ở Việt Nam, sinh hoạt công khai. Như vậy mới có thể có hiệu quả được.”

Trong ngày công bố, Bản Tuyên bố Về Thực thi Quyền Dân sự và Chính trị có chữ ký của 130 nhân sĩ, học giả, trí thức trong và ngoài nước. Trong số này có các nhân vật tên tuổi như Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu; ông Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam TPHCM; ông Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM; ông Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động; Phó Giáo sư Phạm Khiêm Ích, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam.

Những người khởi xướng Diễn đàn Xã hội Dân sự nói họ mong được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng bản Tuyên bố này để thúc đẩy nền dân chủ và tiến bộ của đất nước.

Post by: mai xuân dũng

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Người Việt phải đuổi kịp dân Campuchia

Ngô Nhân Dụng

Từ ba bốn chục năm nay dân Việt Nam đã biết mình thua kém dân các nước Nam Hàn, Ðài Loan, Thái Lan. Biết như vậy cũng thấy tủi, nhưng còn có thể đổ tại số mạng không may, đành chịu. Nhưng khi nhìn thấy dân mình không may mắn bằng dân Miến Ðiện, thì nhiều người đã nóng mặt.

Năm ngoái, nước Miến Ðiện bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, đảng đối lập thắng gần hết các đơn vị bầu cử bổ túc; cả thế giới theo dõi với con mắt ngưỡng mộ. Còn dân mình, chẳng biết bao giờ mới được bầu người đại diện thật sự vào Quốc Hội!

Nay lại đến dân Campuchia. Trong cuộc bỏ phiếu tháng trước, đảng đối lập bỗng nhiên thắng lớn, đã thổi lên một luồng gió mới vào sinh hoạt chính trị. Lý do chính khiến chính quyền Hun Sen thất bại là vì dân đã chán ghét nạn tham nhũng, lạm quyền của đảng Nhân Dân của ông ta; cũng như tình trạng lệ thuộc Trung Cộng và Việt Cộng. Dân Campuchia đã có cơ hội bày tỏ thái độ bằng lá phiếu. Còn dân Việt, bao giờ mới có một cơ hội như thế?

Thua Ðài Loan, Ðại Hàn, Phi Luật Tân đã xấu hổ. Nay thấy mình thua cả dân Miến Ðiện, dân Campuchia, chắc người Việt phải thấy tủi nhục. Nhất là những người biết suy nghĩ, có học, và dám nói. Một người 45 tuổi đảng lên tiếng kêu gọi các đảng viên bỏ đảng Cộng sản để lập đảng mới, cũng nêu trường hợp Camphuchia ra làm thí dụ, cho thấy người ta đã tiến bộ hơn mình. Sau cú sốc Miến Ðiện, cú sốc Campuchia sẽ giúp nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam tỉnh ngộ hơn.

Chắc hẳn Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam cũng lo lắng khi nhìn kết quả cuộc bầu cử ở Campuchia ngày 28 Tháng Bảy năm 2013. Trước hết, nó cho thấy thực lực của đảng cầm quyền không mạnh như chính họ vẫn nghĩ.

Ðảng Nhân Dân Campuchia có gần 6 triệu đảng viên, trong dân số dưới 15 triệu người. Nhưng kết quả kiểm phiếu chính thức cho thấy đảng chỉ được 3 triệu 200 ngàn lá phiếu; phe đối lập, Ðảng Cứu Quốc được 2 triệu 900 ngàn phiếu! Trước ngày dân đi bầu, chính quyền Hun Sen đã mua chuộc cử tri bằng cách tăng lương 40% cho các công chức cấp thấp, nâng lên bằng 80 đô la một tháng. Vậy mà gần một nửa số đảng viên Ðảng Nhân Dân đã bỏ phiếu cho các ứng cử viên đối lập!

Cuộc bỏ phiếu được các cơ quan quốc tế theo dõi, giám sát; nhưng phe đối lập đang tố cáo nhiều vụ gian lận. Có những cử tri đến phòng phiếu khám phá ra mình đã bỏ phiếu rồi! Tức là đã có người đi bỏ phiếu thay cho mình. Có người thì thấy tên mình biến mất, không còn trên danh sách cử tri!

Ðiều thứ nhì khiến đảng Cộng sản Việt Nam run sợ, là lòng dân chống đối âm ỷ đã có dịp bùng lên. Trước đây, người ta vẫn tưởng dân Campuchia hiền lành, bảo sao nghe vậy. Nhưng khi có cơ hội, họ chứng tỏ họ có thể hiền lành thật nhưng không ngu.

Ðảng Cứu Quốc tập hợp Ðảng Sam Rainsy và Ðảng Nhân Quyền, mới lập năm 2007. Trước cuộc bầu cử này, hai đảng lần lượt có 26 và 3 đại biểu trong Quốc Hội. Nay dân đã bầu lên 55 đại biểu Ðảng Cứu Quốc; so với 68 ghế của Ðảng Nhân Dân, so với 90 ghế họ đã có. Dân chúng Phnom Penh đã đi biểu tình ngày 24 Tháng Tư đòi chính phủ tổ chức bầu cử tự do, dân chủ và công bằng. Cuộc biểu tình lớn nhất từ trước đến nay, 4,000 người tham dự, đòi thay đổi thành phần trong Ủy Ban Bầu Cử quốc gia.

Ngày 12 Tháng Bảy, Quốc Vương Sihamoni ký lệnh miễn tội cho ông Sam Rainsy theo đề nghị của Hun Sen, ngày 19 ông về nước, được hàng trăm ngàn người tiếp rước. Rainsy quốc tịch Pháp, nơi ông sống từ lâu trước khi về nước năm 1991, lên làm bộ trưởng tài chánh trong chính phủ liên hiệp. Năm 1994 ông mất chức, vì chống chính sách cho các công ty Trung Quốc và Việt Nam phá rừng, theo lời ông giải thích. Ông lập một đảng chính trị lấy tên Rainsy, rồi ông bị tuyên án 11 năm tù sau khi lưu vong bên Pháp từ năm 2009. Chắc Hun Sen tự tin quyền hành của mình đã vững chắc sau 28 năm làm thủ tướng, cho nên cứ cho Rainsy trở về mà không có quyền bầu cử và ứng cử. Nhưng dân Campuchia đã phản ứng khác. Giới thanh niên có học là thành phần dẫn đầu phong trào đòi thay đổi. Dùng Internet và điện thoại lưu động, họ cổ động cho đảng Cứu Quốc, thanh thế của đảng lan rộng nhờ mạng lưới tuyên truyền mới vượt qua mặt các báo, đài “lề phải” do đảng Nhân Dân kiểm soát. Vợ ông Rainsy là bà Tioulong Saumura cũng đắc cử. Khí thế phe đối lập lên cao đến nỗi nhiều người có tiền trong đảng cầm quyền đã lo sợ rút tiền ra khỏi ngân hàng, dân chúng nghe tin đồn bảo nhau đi rút theo; trong ngày bầu cử họ rút ra số tiền tổng cộng bằng 4 triệu đô la, gấp đôi số tiền rút bình thường.

Một chiêu bài tranh cử của đảng Cứu Quốc là chống Cộng sản Việt Nam, đã được dân Campuchia hoan nghênh. Hun Sen vốn là một cán bộ Khờ Me Ðỏ, sợ mất mạng trong các cuộc thanh trừng đã bỏ theo Việt Cộng, rồi được bọn Lê Ðức Thọ, Lê Ðức Anh đưa lên làm thủ tướng. Sau đó Việt Cộng tiếp tục thao túng chính trường Campuchia, cho đến năm 1997 Hun Sen sợ quá đã quay đầu sang nhờ Trung Cộng giúp. Sam Rainsy lợi dụng nỗi bất mãn của dân đối với Cộng sản Việt Nam cho nên dùng chiêu bài chống người Việt trong cuộc tranh cử. Trong ngày bỏ phiếu, có tin đồn rằng nhiều đoàn xe chở người Việt Nam qua biên giới đi bỏ phiếu cho đảng của Hun Sen! Trên các mạng Internet có những lời phản kháng: “Dân Khờ Me không được bỏ phiếu, dân 'Duồn' đi bỏ phiếu!” Người Campuchia gọi người Việt là “Duồn;” một tên gọi miệt thị cũng giống nhiều người Việt đang gọi người Trung Hoa là “Khựa” trước cảnh chính quyền Trung Cộng lấn áp cả nước Việt Nam. Sau cuộc bầu cử, trong lúc đảng Cứu Quốc còn đang thưa kiện về bàu cử gian lận thì lãnh tụ Sam Rainsy vẫn lên đường đi Boston dự đám cưới của cô con gái, cô Rachel Estée Sam lấy William Josiah Rubenstein, được một vị pháp sư Do Thái làm chủ lễ bằng ba thứ tiếng Hebrew, Pháp và Anh!

Cộng sản Việt Nam phải lo lắng vì phong trào bài Việt ở Camphuchia đang được khơi động; dân Việt sẽ coi đây là hậu quả do chủ trương bành trướng và thao túng nước Campuchia từ thời Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ gây ra. Nhưng Trung Cộng còn lo lắng hơn nữa. Sau cuộc bầu cử, nhật báo Wall Street Journal ở Mỹ nhận xét rằng, “Trung Quốc thua nặng nhất.”
Phong trào dân Campuchia ủng hộ đảng đối lập cho thấy tự ái dân tộc của họ đã bùng lên, sau khi thấy chính quyền Hun Sen hết bám lấy Việt Cộng lại dựa vào Trung Cộng. Người Hoa chiếm 5% trong dân số nhưng kiểm soát 80% nền kinh tế.

Dân Campuchia ghét Cộng sản Việt Nam nhất vì nạn tham nhũng ở xứ này đã được các cán bộ người Việt truyền nghề cho đàn em bản xứ. Mà bây giờ thì đám đàn em còn tham nhũng vượt chỉ tiêu! Người ta đồn “trong đám cưới con ông Hunsen đám thuộc hạ dâng tặng nhiều xe hơi đắt tiền đến mức số chìa khóa xe không thôi đã đầy mấy rổ!” Ðồng bào Việt Nam đang sinh sống ở Campuchia sẽ phải gánh chịu hậu quả!

Tiếng Hoa là ngoại ngữ được học hàng thứ nhì sau tiếng Anh. Trong số khoảng 70 đài truyền hình có 50 đài nói tiếng Trung Hoa. Trung Cộng sử dụng đồng tiền để mua chuộc Hun Sen; hiện nay đứng hàng đầu về vốn đầu tư vào Camphuchia; cao hơn tổng số đầu tư của tất cả các nước khác. Riêng năm 2011, Bắc Kinh bỏ vào Campuchia 1 tỷ 200 triệu đô la, gấp 10 lần số đầu tư của tất cả các công ty Mỹ. Ai cũng biết chính quyền cộng sản ở nước nào cũng rút ruột các công trình đầu tư. Trung Cộng không bao giờ đặt vấn đề đó, trong khi các công ty Mỹ bị trói buộc bởi các đạo luật cấm hối lộ chính quyền các nước khác. Trung Cộng đang thi hành một dự án xây dựng một tuyến đường sắt, một bến cảng và một nhà máy luyện thép trị giá 11 tỷ đô la; khiến ai cũng nghĩ tới dự án xây dựng đập Myitsone tại Miến Ðiện, trị giá 3 tỷ 6, đã bị chính quyền Miến cắt ngang trước khi khởi đầu chương trình dân chủ hóa.

Người dân Camphuchia cũng nhìn thấy rõ chính quyền Hun Sen đang “bán nước.” Thế giới cũng nhìn thấy Trung Cộng đã “bỏ Campuchia vào túi!” Tháng Bảy năm ngoái, trong hội nghị ASEAN tại Phnom Penh, chính phủ Campuchia đóng vai chủ nhà đã ngăn cản khiến không đưa ra được một thông cáo chung, vì biết bản dự thảo nêu lên các hành động xâm lấn của Trung Cộng tại Biển Ðông. Có lúc ông tổng thư ký ASEAN đang bắt đầu nói đến vấn đề này, ngoại trưởng Campuchia đã ngăn lại, cắt ngang lời. Ðến Tháng Chín, Bắc Kinh loan báo cho Phnom Penh vay 500 triệu đô la với lãi suất nhẹ! Không biết các quan chức sẽ bỏ túi bao nhiêu trong số tiền này, nhưng dân cả nước sẽ mắc nợ! Lại còn nạn “bán rừng” cho các công ty Trung Quốc và Việt Nam nữa!

Dân Campuchia ghét Cộng sản Việt Nam nhất vì nạn tham nhũng ở xứ này đã được các cán bộ người Việt truyền nghề cho đàn em bản xứ. Mà bây giờ thì đám đàn em còn tham nhũng vượt chỉ tiêu! Người ta đồn “trong đám cưới con ông Hunsen đám thuộc hạ dâng tặng nhiều xe hơi đắt tiền đến mức số chìa khóa xe không thôi đã đầy mấy rổ!” Ðồng bào Việt Nam đang sinh sống ở Campuchia sẽ phải gánh chịu hậu quả!

Dân Việt Nam chỉ mong người Khmer không khơi dậy mối thù hận lâu đời với người Việt. Họ sẽ phải thấy các chính sách lấn áp của đảng Cộng sản Việt Nam không được dân Việt ủng hộ. Hơn nữa, người Việt Nam sẽ tranh đấu để được sống trong một xã hội tự do dân chủ, ít nhất cũng bằng dân Campuchia. Dù nền dân chủ ở nước láng giềng còn trong cảnh sơ sinh nhưng đã đầy hứa hẹn. Chính quyền Hun Sen sẽ phải giảm bớt tham nhũng và bớt lệ thuộc Trung Cộng khi bị phe đối lập trong quốc hội theo dõi và phê phán. Khi nào cả hai dân tộc cùng sống trong các chế độ dân chủ tự do thì mọi bất đồng sẽ được giải quyết trên căn bản bình đẳng.

Ngô Nhân Dụng