Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

ĐỌC LIÊU TRAI

mai xuân dũng 25/10/2010
  
Đọc Liêu Trai Chí dị có chuyện: 
LIÊM SỶ CỦA KẺ LÀM QUAN
như thế này: 
Tiếu mạ do tha tiếu mạ gia.
Lão nhân trường lạc tín kham khoa.
Ðường khai hoạ cẩm tiêu doanh thiếp.
Thử thị tam triều tể tướng gia.
Triều Minh, có viên quan họ Chu, tên Chính Khang làm quan trải ba đời vua, được phong đến chức tể tướng. Có lần Chính Khang được triều đình sai cầm quân cự giặc giặc. Thấy khí thế của giặc mạnh quá, Chính Khang đầu hàng, Triều đình phải giảng hòa với giặc để giặc thả cho Chính Khang ra về. Khi về, Chính Khang lại được nhà vua cho phục chức nên bị dân chúng đương thời khinh khi. Khi về quê hưu trí, Chính Khang thuê thợ xây cất một gia miếu.
Trước ngày khánh thành miếu, Chính Khang sai gia nhân ra ngủ đêm ở miếu để trông coi, đề phòng kẻ phá hoại. Sáng sau, đúng vào ngày khánh thành, gia nhân hớt hải chạy về báo tin có kẻ lẻn vào miếu lúc nào chẳng rõ, treo một bức hoành ngang trên tường với một đôi câu đối dọc theo hai cột. Chính Khang lấy làm lạ, vội dẫn con cháu tới miếu coi. Tới nơi, mọi người đều thấy trên bức hoành có đề bốn chữ: Tam Triều Nguyên Lão và  đôi câu đối có đề mười bốn chữ:
Nhất Nhị Tam Tứ Ngũ Lục Thất và Hiếu Ðễ Trung Tín Lễ Nghĩa Liêm.
Ai cũng hiểu ý nghĩa của bốn chữ trên bức hoành là Ông Già Làm Quan, Trải Ba Ðời Vua song chẳng ai hiểu ý nghĩa của mười bốn chữ trên đôi câu đối là gì. Câu chuyện lan khắp vùng. Dân chúng đua nhau giải thích song rút cục cũng chẳng có ai giải thích được thỏa đáng. Ít lâu sau, có một danh sĩ trong vùng giải thích như sau:"Ðúng ra đôi câu đối ấy phải có mười sáu chữ là:
Nhất Nhị Tam Tứ Ngũ Lục Thất Bát và Hiếu Ðễ Trung Tín Lễ Nghĩa Liêm Sỉ. Người viết cắt bớt chữ Bát ở vế đầu và chữ Sỉ ở vế sau là có ý nói Chính Khang mất chữ Bát và không có chữ Sỉ. Trong Hán tự, mất chữ Bát gọi là Vong Bát, không có chữ Sỉ gọi là Vô Sỉ. Cả hai cặp chữ Vong Bát và Vô Sỉ đều có cùng một nghĩa là vô liêm sỉ" Ai cũng chịu lời cắt nghĩa của danh sĩ ấy là thỏa đáng. Kẻ sĩ đời sau bình luận việc tể tướng Chu Chính Khang được triều đình tin cậy cầm quân dẹp giặc mà lại đầu hàng mong yên thân là một việc làm thiếu liêm sỉ của kẻ làm quan. Thử hỏi sau này con cháu muôn đời có dám khoe giữ họ Chu hay chăng ?

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2010

CẦN CÓ MỘT TẤM LÒNG

Mai xuân dũng 22/10/2010
              
              Chị Nguyễn Thị Lý (Ảnh Net) 
Đúng 3 giờ chiều ngày 20/10 mấy mẹ con chị Nguyễn Thị Nguyệt ở thị trấn Xuân An, Nghi Xuân, Hà Tĩnh đã phát hiện được chiếc xe khách dưới đáy sông Lam cùng với các nạn nhân xấu số.Nhận được tin báo, lực lượng cứu hộ đã triển khai việc trục vớt chiếc xe, cho đến chiều ngày 21/10, chiếc xe khách và 14 thi thể đã được đưa lên bờ.Trong khi 100 người của lực lượng cứu hộ, có cả các thợ lặn chuyên nghiệp với đầy đủ tàu thuyền lớn nhỏ và khí tài dò tìm, quần đảo trên một đoạn sông thuộc Xuân Lam, Nghi Xuân mà không phát hiện nổi chiếc xe khách chìm, thì hai mẹ con người phụ nữ thôn quê, trong tay chỉ có chiếc lưới bằng dây thừng bện lấy, kéo rê trên sông lại phát hiện, tìm được là một câu hỏi lớn về tính hiểu quả của các đội cứu hộ nhà nước.
Việc mẹ con chị Nguyệt tìm được chiếc xe chìm không phải là sự tình cờ. Lập luận và phương pháp của chị rất đơn giản: dùng dây thừng đan, tết thành một chiếc lưới thưa, buộc gạch cho nặng rồi buộc vào đuôi thuyền cho chạy dọc sông như kiểu lưới vét. Khi thấy lưới bị kéo căng ra có nghĩa là lưới vướng vật cản thì lặn xuống kiểm tra. Bằng cách giản dị nhất này, mẹ con chị Nguyệt đã thành công.Tại sao việc đơn giản như thế mà lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp trang bị tận răng không làm nổi?Đây là vấn đề cần bàn nghiêm túc và rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác cứu hộ và công tác quản lý nhà nước.
Công việc dò tìm, vớt thi thể các nạn nhân có tính nhân đạo và không thể tính bằng tiền nhưng các cấp lãnh đạo cũng nên nhìn vào đó để thấy một bài toán: hàng trăm người cùng các phương tiện chuyên dùng rồi tàu xe cứu hộ phải chi tiêu bao nhiêu tiền ngân sách? Và cần làm gì để việc cứu hộ tương tự như thế có tính hiệu quả hơn.
    
   Chị Trần Thị Bình (Ảnh Net)
Viết đến đây tôi chợt nhớ lại, Hà nội cũng có một người đàn bà nhân đức, có khuân mặt hao hao như chị Nguyệt đó là chị Trần Thị Bình nay đã ngót 60 tuổi đời ở xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà nội cũng làm công việc này, hàng năm mỗi mùa lũ. Chị Bình đã vớt xác và cứu sống được hàng chục người lâm nạn. Các chị vẫn sống cuộc đời nghèo khó, giản dị bao nhiêu năm trời và gắn bó với sông nước với công việc hiểm nguy, vất vả nhưng thật là nhân đức.Có phải bất kể là việc gì, tính hiệu quả trước hết là cần phải có một tấm lòng?
Mai xuân dũng

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

ĐỂ HIỂU THÊM TỐ HỮU

Trước mắt tôi là sưu tập Văn Nghệ số 40 ra 3-1953. Lúc này cơ quan Hội văn nghệ đang đóng ở rừng Việt Bắc. Nhân cái chết của Stalin, tạp chí của Hội ra một số đặc biệt, không chỉ Tố Hữu mà nhiều tác giả khác có bài liên quan tới sự kiện này.Về thơChế Lan Viên có Stalin không chết, mở đầu bằng mấy câu
Stalin mất rồiĐồng chí Stalin đã mất!
Thế giới không cha nặng tiếng thở dài
Ở đoạn dưới
Mẹ hiền ta ơi Em bé ta ơi
Đồng chí Stalin không bao giờ chết…
Triệu triệu mẹ già em dạiĐều là súng Stalin để lại ( VTN gạch dưới)*
Giữ lấy hòa bình thế giới
Tiếng nổ ca vang dội thấu mặt trời
Các bài tiếp theo:
Trước bài Đời đời nhớ Ông của Tố Hữu là bài Nhớ đồng chí Sta lin của Huy CậnTiếp đó các bài của Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn.Xuân Diệu có bài Thương tiếc Đại nguyên soái Stalin:
Nghe tin mất mới thấy lòng quyến luyến
Từ bao lâu yêu Người tận tủy xương
Tiếng khóc đây là tất cả can trường
Thấy Người thật là bát cơm miếng bánh
Người gắn với chúng con trong vận mệnh
Về phần văn xuôi.Phan Khôi có bài Một vị học giả mác-xít thiên tài. Trước khi viết kỹ về cuốn Chủ nghĩa Mác và vấn đề ngôn ngữ, Phan Khôi có đoạn dạo đầu ngắn:Đối với cái chết của Đại nguyên soái Stalin, vấn đề đề ra trước mắt những người đang sống là: Chúng ta phải học tập Stalin, học tập đạo đức cách mạng và trí tuệ của ông, được cả càng hay, không thì được phần nào cũng hay phần ấy, đó là một đảm bảo vững chắc cho cuộc thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của Chủ nghĩa tân dân chủ.Lê Đạt thì xuất hiện như một phóng viên, ghi lại không khí một nhà máy trong rừng khi nghe tin Stalin mất. Bài viết khoảng 3.000 chữ này kể chuyện cái chết của Stalin đã gợi lên niềm xúc động to lớn, từ đó đánh thức tinh thần lao động sáng tạo của cả một tập thể công nhân gang thép.Xin phép mở một dấu ngoặc.Ngoài các bài Liễu, Bài thơ tình ở Hàng Châu, Tế Hanh còn có bài thơ ngắn sau đây, viết trong đợt thăm Trung quốc 1962. Tôi vẫn thường nhẩm lại mỗi khi nhớ tới đời sống tinh thần của chúng tôi những năm 1965 về trước.
Hồ Nam xe chạy không dừng bước
Dãy núi cao liền dãy núi cao
Quê hương lãnh tụ mây thêu nắng
Thấy mặt trời lên nhớ bác Mao
Tôi muốn thầm nói với Tế Hanh: Anh không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, bao nhiêu người nghĩ thế, chứ đâu phải riêng anh!Trở lại chuyện Tố Hữu.Nếu có ai hỏi tôi thích bài nào của Tố Hữu nhất, tôi sẽ nói rằng đó là cụm mấy bài ông làm hồi đi tù, in trong phần Xiềng xích của tập Từ ấy.Bài Nhớ đồng
Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò
Bài Tiếng hát đi đầy
Hỡi những anh đầu đi trước đó
Biết chăng còn lắm bạn đi đầy
Những bài thơ này có cái giọng mà sau này không bao giờ Tố Hữu có nữa. Nhà thơ bơ vơ trong cảnh đơn độc ở núi rừng. Phải làm thơ, phải lấy thơ để tự khẳng định, thơ cất lên không để cho ai mà trước tiên để cho mình .Những bài thơ viết khi người ta không biết mình sẽ sống hay chết như thế này,tôi còn gặp một lần nữa trong thơ VN về sau, đó là tập Ánh sáng và phù sa. Khi soạn tập thơ (1960), Chế Lan Viên chưa chuyển sang giai đoạn lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa , như Xuân Sách sẽ viết .Sinh thời, Tố Hữu hay nói, đại ý hãy coi ông là nhà cách mạng, sau đó mới là nhà thơ.Như thế tức là ông cũng đã biết chỗ đứng của mình trong lịch sử.Có điều không phải luôn luôn người ta làm được đúng như những điều người ta tự xác định.Là một người hết sức nhạy cảm và sẵn có cả chất mệ của quê hương, ông thừa biết nhiều khi dân văn nghệ ca ngợi thơ ông vì ông là quan chức phụ trách người ta, nắm sinh mệnh của người ta.Song nếu đủ sáng suốt để từ chối những lời nịnh bợ thường trực thì ông đã không còn là ông nữa.Lẽ đời là vậy, lúc được được quá cái đáng được, thì lúc mất cũng mất quá cái đáng mất.Nhưng về phần chúng ta, mỗi lần đả động đến ông, tôi nghĩ nên phân biệt đang nói về ông như một quan chức cao cấp hay nói về ông như một nhà thơ.Khoảng năm 1973, Hà Nội có một triển lãm điêu khắc với ngôn ngữ khá hiện đại của Nguyễn Hải và Lê Công Thành. Chính Tố Hữu cũng rất thích — sang Hội nhà văn nghe ngóng về, Nguyễn Khải báo cho tôi biết tin vui đó. Nhưng rồi hóa ra chúng tôi mừng hụt. Mấy vị to hơn tới xem cho là không được. Và người ta lại thấy Tố Hữu cho truyền đi nhận định không thể tìm tòi kiểu ấy, mà hãy trở lại với thứ điêu khắc mô phỏng đời thường, kiểu Trần Văn Lắm!
 
Tức là cũng như chúng ta, Tố Hữu cũng có lúc phải làm ngược điều mình nghĩ.Trước đó năm 1965, Nguyễn Thành Long bị nạn với bút ký Cái gốc. Bài ký cũng chẳng có chuyện gì đen tối lắm, chỉ tả phụ nữ trong chiến tranh quá nhếch nhác, nên bị Đảng đoàn Hội phụ nữ kêu.Theo chỗ tôi nhớ, lúc đầu Nguyễn Thành Long rất tự tin, vì Tố Hữu đã nhắn xuống tỏ ý bênh, “họ có Đảng đoàn thì mình cũng có Đảng đoàn chứ “( ý nói Đảng đoàn phụ nữ và Đảng đoàn văn nghệ– hai cấp tương đương nhau ). Thế nhưng bên phụ nữ kiện lên trên và cuối cùng văn nghệ thua, Cái gốc chung số phận với Tình rừng.Nguyễn Khải kể khoảng năm 1963, có lần được dự một cuộc họp cùng bí thư tỉnh ủy các tỉnh đồng bằng do Tố Hữu chủ trì, chắc là bàn về công tác tuyên huấn. Trong lúc nghe mọi người thảo luận, bỗng Nguyễn Khải thấy Tố Hữu đang đi quanh thì dừng lại, ghé vào tai mình nói nhỏ:– Chắc nhà văn nhìn cảnh này như một trò hề?!Rồi ông lảng ngay, lên bàn chủ tịch, tiếp tục lo nốt các việc đang làm dở.Cái lạ của các nhà văn sau 1945 là khi tính viết con người thời nay, chỉ hay viết về nhân vật quần chúng công nông. Còn những người kéo quần chúng đi, vẽ ra cái mẫu điển hình để quần chúng sống theo và nói chung chỉ có vai trò đơn giản là…lèo lái toàn bộ đời sống – những nhân vật quan chức nhân vật cán bộ kiểu ấy lại chả ai viết bao giờ.Tôi đã phác qua một vài nét về Tố Hữu hồi ở Việt Bắc trong ghi chép về Nguyễn Đình Nghi.Nhị Ca kể với tôi cái tình tiết sau đây: trong rừng, cạnh cơ quan, thường có những quán cà phê, anh em hay ra đấy đấu láo. Đang vui thì Tố Hữu đến. Thế là mọi người không ai bảo ai rút lui hết. Chỉ còn một người bao giờ cũng ngồi với Tố Hữu đến cùng. Là Hoài Thanh.Cái công của Tố Hữu hồi ấy là giữ cho được anh em đi theo kháng chiến đến cùng không để họ trở về thành.Những năm chiến tranh, thỉnh thoảng một số anh em viết trẻ chúng tôi cũng được gọi đi nghe Tố Hữu nói chuyện. Có một câu ông nói khiến tôi nhớ nhất và phải nói thực sợ nhất, đó là cái ý ông bảo sang nước ngoài thấy đời sống họ lạnh lùng lắm, về nước thấy đồng bào mình sống với nhau, ấm cúng hơn hẳn.Ông cũng thường nói là nổi tiếng ở nước ngoài thì dễ, nổi tiếng ở trong nước mới khó .Lại có lần khuyến khích lớp trẻ, ông bảo phải biết đấu tranh cho chân lý, khi cần phải cắn xé(!). May mà bọn tôi đã nghe nhiều về tính đồng bóng của ông, nên chẳng mấy cảm động, nhớ đâu hình như chính Xuân Quỳnh bảo rằng có mà ông cho ghè gẫy răng.Tố Hữu quản cán bộ cấp dưới thế nào? Nguyễn Khải nhận xét có vẻ như càng những người bất tài và có khuyết điểm ông lại càng thích dùng. Những ông A ông B từng bị Tố Hữu mắng như tát nước vào mặt lại rất vững vàng trong vị trí của mình. Vì ông thừa biết loại đó bảo thế nào họ cũng phải nghe.Bảo Định Giang, người phụ trách Hội liên hiệp những năm ấy thường kể với mọi người ông Lành dọa sẽ lấy đầu nếu BĐG để một vài văn nghệ sĩ tiêu biểu lơ mơ ở Hà Nội rồi dính bom đạn.Một lần, khoảng những năm trước 1980, tôi ngồi với Nguyễn Khải, Xuân Sách, cùng giở một số báo Tết. Khi ấy Tố Hữu đã đi phụ trách kinh tế, nhưng các số báo tết vẫn có bài của ông. Nguyễn Khải sát hạch tôi:
– Thằng Nhàn hãy thử bình một câu xem nào.Tôi lúc đầu cũng chỉ biết nói như mọi người:
– Thế là được một nhà kinh tế mà mất một nhà thơ.Nguyễn Khải gạt phắt đi:
– Không được.Trong cơn bí, tôi phụt ra một ý mà trước đó tôi không hề nghĩ:
– Người làm ra những bài thơ như thế này thì chắc làm kinh tế cũng không ra gì!
Bấy giờ Nguyễn Khải mới cười, bảo ra tôi cũng bắt đầu biết rồi đấy.Kim Lân có lần rủ rỉ bảo tôi chính Tố Hữu đã kể với tác giả Vợ nhặt rằng hồi nhỏ ông mắc bệnh mộng du. Có lần chui lên cả bàn thờ họ mà làm một giấc ngủ trưaTố Hữu & một nền văn nghệ phục vụ cách mạng Bài viết trên Thể thao& văn hóa,ngày Tố Hữu mất Viết lần đầu 12-2002Trước nay đã vậy mà vào dịp Tố Hữu qua đời cũng vậy, tác giả Từ ấy thường được biết tới như một tiếng thơ hùng tráng, nhà thơ mang tiếng nói của cách mạng, người mà sinh thời, mọi sáng tác được truyền tụng rộng rãi đến mức chưa một nhà thơ nào trong lịch sử dân tộc biết tới.Nhưng trên cái nền rộng rãi của lịch sử đất nước nửa cuối thế kỷ XX, Tố Hữu còn nổi bật trong một vai trò lớn lao khác: ông chính là một thứ tổng công trình sư đảm nhiệm vai trò thiết kế, một thứ tổng đạo diễn, suốt đời gắn bó với mọi hoạt động của nền văn nghệ mới.Hà Nội đầu 1946. Cách mạng thành công đã được mấy tháng, nhưng nhiều văn nghệ sĩ còn đứng ngoài, một người như Nguyễn Tuân sau này cũng kể là ông còn “ ngủng ngoẳng chưa thật sự muốn theo Việt Minh “. Một lần, nghe Hoài Thanh nói rằng có một nhà thơ cách mạng muốn gặp, ông “ nắn gân “ bằng cách hẹn ngay ở Thuỷ Tạ Bờ Hồ ( lúc bấy giờ là một nơi ăn chơi phức tạp ! ). Nhưng nhà thơ kém Nguyễn Tuân đúng chục tuổi kia không ngán, mà vẫn tới, thuyết phục Nguyễn Tuân tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi mặt trận. Nhà thơ đó là Tố Hữu.Hạ Hoà, Phú Thọ, mùa đông 1948. Hội văn nghệ Việt Nam đã được thành lập, song còn lúng túng trong phương hướng sáng tác, nói theo chữ của Xuân Diệu là các ông còn “ mơ màng tìm kiếm những sáng choang bóng lộn thơm phức tận đâu đâu…” Một lần, trên mặt trận đưa về một bài thơ là bài Viếng bạn của Hoàng Lộc. Đọc xong, Xuân Diệu phát biểu thành thật “ Chẳng thấy hay”. Lúc ấy có một nhà thơ khác “đã rất bầu bạn làm trạng sư cho bài thơ “. Theo chính lời kể của Xuân Diệu, “ anh chăm chăm bình lại từng đoạn một, giúp tôi cảm xúc cái tình cảm của bài thơ đặng cho tôi thành bà con rồi ruột thịt của nó. Từ đêm hôm ấy, tôi vỡ lẽ ra dần, dần dần chuyển cách thức ăn nếm của mình “. Nhà thơ đó cũng là Tố Hữu.Hai mẩu chuyện trên đây đã tóm tắt khá đầy đủ hai phương diện còn ít được nói tới trong đóng góp của Tố Hữu đối với lịch sử văn học. Đó là, một mặt tập hợp đội ngũ sáng tác, tổ chức họ thành một binh đoàn hùng mạnh trong lực lượng cách mạng; mặt khác, dần dần từng chút một, làm thay đổi cả cách hiểu cũ về văn học, hình thành nên một cảm quan văn chương mới và thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là thông qua hệ thống nhà trường được phổ cập rộng rãi, nhân rộng mãi nó ra, biến nó thành cảm quan của thời đại.Những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp phát hiện cho người ta thấy hình ảnh một Tố Hữu như là một nhà cách mạng bẩm sinh : ông dám bắt đầu một công việc từ chỗ gần như chỉ có hai bàn tay trắng. Thành công của ông giữa núi rừng Việt Bắc là thu hút được những tên tuổi nổi tiếng (từng được xem như niềm tự hào của kháng chiến ) từ Ngô Tất Tố tới Phan Khôi, từ Nguyễn Tuân tới Thế Lữ, từ Hoài Thanh tới Đoàn Phú Tứ… trong một tổ chức gọn gàng là Hội văn nghệ, quản lý họ, lôi cuốn họ vào công việc, cùng với họ ra báo dịch sách và đưa họ đi tham gia các chiến dịch cho đến ngày theo chân các đoàn quân về giải phóng thủ đô 10 / 1954.Mặc dù về sau còn được giao phó nhiều trọng trách khác trên các lĩnh vực tư tưởng và có khi cả kinh tế, song không bao giờ Tố Hữu rời bỏ công tác văn nghệ, mảnh đất đã giúp ông xây dựng sự nghiệp chính trị. Với ông những câu “ văn nghệ phục vụ chính trị “ hoặc “ văn nghệ cũng là một mặt trận “ không chỉ là khẩu hiệu mà là quan niệm có thể và cần phải được hiện thực hoá hàng ngày.Sau kháng chiến chống Pháp, ông kiên định trong việc chỉ đạo từ vụ Nhân văn giai phẩm tới các cuộc chống xét lại cũng như giáo điều trước chiến tranh, để rồi tiếp tục huy động một cách rất thành công sự đóng góp của giới văn nghệ trong những năm chống Mỹ.Tình thương mến, tình nghĩa, thuỷ chung… là những điều thường được ông nhắc lại nhiều hơn cả khi tiếp xúc với những con người làm việc trên lĩnh vực nhạy cảm này. Ông hiểu rất rõ chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Khi nâng niu trân trọng lúc yêu cầu se sắt gắt gao, ông biết cách làm cho mỗi người trong họ có được kết quả cụ thể trong công việc.Với sự nhạy cảm tuyệt vời của một nghệ sĩ, ông hình thành được một đội ngũ những người cộng sự trung thành, từ Nguyễn Đình Thi tới Chế Lan Viên, từ Hà Xuân Trường tới Bảo Định Giang… và nhờ thế có tiếng nói quyết định trong các vấn đề trọng yếu của văn nghệ ngay cả khi đã quá bận bịu vì những công việc to lớn khác.Tinh thần cách mạng, tinh thần sáng nghiệp sử ( khai phá một con đường đi mới dám làm những việc xưa nay chưa ai từng làm ) cũng được Tố Hữu quán xuyến trong khâu xây dựng một quan niệm mới về văn nghệ. Cách mạng cần động viên tinh thần chiến đấu của công nhân nông dân ? Thì ông lo đào tạo những người sáng tác xuất thân từ công nông và nhất là lo có những tác phẩm giản dị, tự nhiên mà công nông có thể hiểu được. Những chuẩn mực của nền văn nghệ cũ tỏ ra không thích hợp với yêu cầu cấp bách của cách mạng ? Thì chúng phải bị gạt bỏ để thay thế bằng những chuẩn mực mới. Điểm xuất phát của những chuẩn mực vừa hình thành này là dễ làm nhiều người có thể làm, dễ hiểu và không ai có thể hiểu sai, bởi đây là một nền văn nghệ thuộc về nhân dân lao động.Câu chuyện về thị hiếu về cái gout mà trên đây Xuân Diệu đã kể nhân bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc mang một tinh thần như vậy. Có thể nói Tố Hữu đã làm những việc này với một niềm tin kỳ lạ. Ông không truy tìm những công việc có ý nghĩa lý luận thuần tuý. Những đúc kết của ông là đơn giản thiết thực dễ kiểm tra dễ theo dõi xem nó đã được quán triệt đến đâu, do đó nhanh chóng đi vào thực tiễn.Những chuẩn mực mới này cố nhiên cũng là điều được Tố Hữu theo đuổi trong sáng tác thơ ( một việc mà gần như không bao giờ ông có điều kiện dành toàn bộ công sức song cũng không bao giờ xao nhãng ). Ở đây có thể nói tới một sự gặp gỡ tự nhiên giữa kiểu tài năng thơ ở ông và những gì ông tin theo và muốn mọi người cùng tin theo.(Tôi vẫn nhớ một ý của Lê Đình Kỵ đánh giá Ba mươi năm đời ta có Đảng: Đó là một kiệt tác của thể diễn ca)*Một điều có thể chắc chắn, chẳng những thơ Tố Hữu mãi mãi là bằng chứng của một thời đại trong văn nghệ mà cái cơ chế văn nghệ do ông thiết kế còn tồn tại dai dẳng và những tư tưởng lý luận của ông còn tiếp tục chi phối đời sống văn nghệ trong những năm sau khi ông đã qua đời. Chúng ta có thể chán nó, chê trách nó, muốn thoát khỏi nó, nhưng không thể phủ nhận là đã có nó, nó có lúc là một bộ phận trong gia tài tinh thần của mỗi người làm văn chương nghệ thuật thời nay.Theo nghĩa ấy, tất cả chúng tôi không ít thì nhiều đều là trong bàn tay nhào nặn của Tố Hữu. Và đến lượt mình, chính ông cũng chỉ là một công cụ của lịch sử.* *Những đoạn nhấn mạnh mới bổ sung 4-10-2010HAI BÀI THƠ TỐ HỮUSau đây là hai bài thơ Tố Hữu viết về Triều Tiên, bọn học sinh cấp II ( trung học cơ sở ) chúng tôi được học trong chương trình chính khóa mấy năm 1956-57 ở Hà Nội, nhưng lại không thấy in trong các tập thơ của tác giả. Tôi ghi theo trí nhớ, nên có thể có khiếm khuyết, mong được lượng thứ.
Em bé Triều Tiên
Em bé Triều Tiên ơi
Mẹ của em đâu rồi ?
Có ai đây mà hỏi
Giặc bốn bề lửa khói
Mẹ của em đấy ư ?
Cái thân trắng lắc lư
Đầu dây treo lủng lẳng
Cha của em đấy ư?
Cái đầu lâu rũ tóc
Máu chảy dài thân cọc
Không, không phải em ơi
Mẹ của em đây rồi
Mẹ em đâyNgười dân công tải đạn
Mẹ em đây người nữ cứu thương
Cha em đây giữa chiến trường
Mặt đen khói đạn chặn đường giặc lui.
Anh Chí nguyệnCon Bác Mao đã đến
Anh đã đếnVới cha em giết hết loài man rợ
Cho mẹ em xây lại tổ mềm
Cho em sướng cho em ca múa
Trên đồng hoa bãi lúa
Nhịp sống vui muôn thuở của Triều Tiên
Bé em ơi, giữa súng rền
Ngày mai tươi mát hát trên đất Triều!
Việt Nam – Triều Tiên
Việt Nam với Triều Tiên
Ta là hai anh emSinh đôi cùng một mẹ
Thương nhau từ thuở bé
Nay đều khỏe lớn lên
Việt Nam với Triều Tiên
Ta thành hai đồng chí
Ta thành hai anh hùng
Ta thành hai chiến lũy
Cùng bảo vệ hòa bình
Kim Nhật Thành—Hồ Chí Minh
Hai chúng ta là một
Qua Trung Hoa ta như liền khúc ruột
Với Liên xô ta chung một mái nhà
Bây giờ ta đến thăm ta
Nhìn nhau khóe mắt mầu da thân tình
Cây thông xanh Triều Tiên cháy xém
Thương cây tre Việt Nam giặc chém
Cây thông xanh nhựa chẩy ròng ròng
Thương cây tre đứt ruột đứt lòng
Nhưng chúng ta quyết không khuất phục
Chúng ta không một lúc cúi đầu
Chúng ta chiến đấu bên nhau
Tâm giao một tổ trước sau một đường
Ta quyết giữ quê hương Triều Việt
Cho chúng ta cho cả loài người
Quang vinh Việt Bắc Tháp Mười
Quang vinh Trường Bạch đỉnh đồi Thượng Cam
Triều Tiên với Việt Nam anh dũng
Đất nước ta dù im tiếng súng
Đường bạn còn đi tới Tế Châu
Đường chúng tôi còn tới Cà Mâu
Ta lại bước bên nhau lại bước
Như giông tố không thể nào ngăn được.
Bây giờ ta với ta đâyTriều Tiên với Việt Nam anh dũng
Hôm nay hãy hôn đôi bàn tay
Hôm nay hãy hôn đôi nòng súng
Giữ hòa bình Tổ quốc chúng ta
Và ngàn năm Triều Việt một nhà.

Theo Blog Vương Trí Nhàn

Thứ Ba, 19 tháng 10, 2010

BƯỞI VÀ BÒNG

MAI XUÂN DŨNG 19/10/2010
 
Bưởi vẫn còn mê? 
(Thương lắm miền Trung ơi)

Miền Trung bão lụt quen rồi?
Một năm mấy vụ gội trời, lội sông
Mì tôm, rau đắng cầm lòng
Lòng riêng Bưởi vẫn nhớ Bòng ngoài kia
Trót lòng đã miệng lời thề
Theo Bòng mấy chục, cơn mê chửa tàn
Bây chừ vườn Bưởi tan hoang
Trách ai bỏ ngãi tham vàng mà thôi
Mặc dù, cho Bưởi nổi trôi...
mxd

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

MA, HỔ, NGƯỜI LUẬN BÀN THẾ SỰ

Mai xuân dũng 19/10/2010
 
Sách Huyền diệu có chép tryện rằng: Ngày nọ Người, Hổ, Ma vô tình gặp gỡ luận bàn thế sự.
Hổ nói: phàm trong giời đất sợ nhất kẻ thông minh. Cái sự khôn ngoan ấy làm thiện cũng được, làm ác cũng được. Nói phải thì có lý, nói trái, biện bạch cũng thành phải. Ta đây là chúa sơn lâm mở mắt nhìn có kẻ vỡ mật, gừ một tiếng muôn vật chạy dạt cả, vốn trước đây có bộ lông vàng tuyệt đẹp nay trở nên vằn vện xấu sa, kém uy phải chui rúc trong rừng sâu núi thẳm cũng do cái thông minh nó làm hại.
Ma bảo rằng: cái đáng sợ nhất là sự khiêm nhường. Lá dâu mềm mại, yếu đuối đến như con tằm còn ăn được. Nước giải đàn bà là thứ tưởng chừng bỏ đi nhưng chữa được bệnh nan y. Những kẻ khiêm nhường giả ngây giả dại chỉ chờ ma sơ sẩy, xuất kì bất ý, vụt roi dâu nhúng nước giải đàn bà ma vỡ bóng lìa dương hết chốn ăn mày hương khói. Khiêm nhường với giả trá lắm khi cũng tệ không cái nào kém cái nào.
Người chỉ nghe mủm mỉm không nói không rằng. Thấy vậy Ma với Hổ bèn giục Người luận bàn xem ý ra sao. Lúc ấy Người mới thủng thẳng mà rằng: Người chả sợ gì, chỉ sợ Người thôi. Ma với Hổ cả cười cho rằng cùng đồng loại với nhau cớ gì phải sợ. Người đáp: Trong muôn một, Con cùng cha mới tranh đất cát, bạc tiền thừa tự. Gái chung chồng mới sinh ghen tuông thù oán. Kẻ làm quan ngầm hại nhau cũng vì tranh chức cùng trong Triều chính. Kẻ tranh lợi tất là lái buôn cùng một mối. Muốn bẫy chim phải dùng chim làm mồi. Muốn săn hươu tất dùng hươu làm bóng. Ma thi thoảng hại người. Hổ họa hoằn vồ người. Chỉ có đồng loại là giết nhau nhiều ức vạn bảo sao Người chỉ sợ Người thôi. Nghe vậy, Hổ và Ma mới cho là phải.
Lời bàn:
Hổ và Ma luận bàn không phải đã sai nhưng nói một chỉ biết một, còn Người nói một phải hiểu mười là vậy. Lại có khi nói vậy mà không phải như vậy. Ngẫm khi xưa thấy phường dệt làm ra nhiều vải nghĩ tất phải dùng vải may áo nên có kẻ buôn rõ nhiều khuy cài đẹp đẽ óng ánh muôn mầu. Về sau ế ẩm cho không đắt vì khi ấy Man vương truyền cho dân phải mặc áo vải khuy tết theo lối Bắc phương. Vậy là phường buôn khuy nghĩ một mà không biết mười, Man vương thậm thụt đi lại với Bắc vương đâu phải để uống dăm chén mao đài ru? mà để lo việc nghìn vạn sau này cho tông miếu dòng họ.
Lại nói Tể tướng thời Man vương tên là Sùng Của hội quan bàn việc triều chính nói đông nói tây giữa hội đường hàng trăm văn võ bá quan ai cũng vỗ tay tán thưởng. Sùng Tể tướng lại cũng ý ấy nói nam nói bắc, các quan thảy đều vỗ tay ca ngợi. Các phó tướng đồng thanh đứng lên hô Nhất trí, nhất trí. Sùng Tể tướng về tư thất khóc hu hu. Thê thiếp thấy vậy an ủi mà rằng: “Tướng công chớ lo buồn mà sinh bệnh, lỡ có mệnh hệ gì thì tiền của như non cao ai tiêu cho, phúc lộc dồi dào ai hưởng. Lăng tẩm, đền đài miếu mạo bỏ tiền ức vạn bạc vàng mới xây cất xong ai trông nom bây giờ”. Sùng tướng công bèn gượng dậy mà rằng: “Các ái khanh nhi nữ biết gì. Ta đang héo ruột thối gan đây. Làm Tể tướng những mong quần thần đa mưu túc trí biết khen điều ngay, chê lời nghiêng, bày mưu hay, kế lạ hầu dẹp trong hòa ngoài. Trước ta chót đuổi Toàn Chi là mưu thần ngay thẳng , giờ trong tay áo rặt kẻ khéo ăn khờ làm. Ngu dốt như ta, sức học có dăm cân chữ trong bồ rỗng mà còn khá hơn lũ vô dụng kia thử hỏi thuyền chìm, nước mất đến nơi, ta còn thiết nỗi gì?”.Các thê thiếp đêm ngày hầu bên gối còn không biết Sùng Tướng công khóc thật khóc giả thì thử hỏi ai biết ruột gan Tướn công sa sao?Việc Man vương hạ chiếu dùng khuy tết giống người đất Bắc Vương, Sùng tể tướng lúc khóc khi cười tưởng vô hại, ngẫm kĩ ra mới biết còn tệ hơn giết ức vạn người. Thật là thâm hiểm, vô luân. Bảo làm sao mà Người sợ nhất Người, đồng loại sợ nhất nhau chứ hổ, ma còn hiền lành hơn muôn vạn lần.
Mai xuân dũng

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

ĂN GÌ BỔ NẤY

mai xuân dũng 18/10/2010
Vào nhà hàng sang chọng ở Thủ đô, khách chân yếu tay mềm cầm cuốn Menu phải bê cả hai tay, đơn giản vì nó đã nặng lại to. Thực đơn có cỡ 200 món. Nghe đâu có nhà hàng thấy thiên hạ sùng con số 1000 nhân dịp kỷ niệm đại lễ vừa rồi cho in cuốn thực đơn 1000 món ăn 3 miền. (Nghĩ bụng, bác bợm nhà ta vừa uống bia vừa nhẩn nha xem hết thực đơn có nhẽ đủ say khướt khỏi kêu món nào).Đấy là nói chơi biết vậy, chỗ đó dành cho quan chức chứ bọn dân thường chỉ dám ngồi quán phủi cho nhẹ ví tiền. Nhưng mấy quán coi bộ dân dã thế thôi chứ mồi lạ, nhậu quá hay. Thường thì là mấy món chân quê khoái khẩu đại loại như nầm nướng, chân chó hầm thuốc bắc, dây nướng than hoa đảm bảo lạ miệng đưa cay đệ nhất mà giá cả cũng phải chăng.
 
Hà nội có vài quán dây nướng nhưng quán Đường tàu tiếng tăm hơn cả. Gọi vậy vì quán nằm bên đường tàu, dưới ngã tư Vọng. Bây giờ quán chuyển vào trong bãi cho rộng vì khách đông quá. Vì quán nằm bên hồ nên người ta còn gọi là quán dây hồ Phương Liệt.Thực khách ở đây tịnh không có đàn bà con gái. Toàn đực rựa với nhau. Bởi mồi “nhạy cảm” quá. Quán chỉ bán nhất vị trym nướng, chị em ai dại gì đến ngồi đây cho mang tiếng. (Gói đem về thì…ăn vậy, không chê).Thực ra ngoài món chủ đạo còn 4 món nữa: dồi, sườn, dạ dầy, xiên tẩm ướp kĩ càng, quạt than hoa vàng rộm, nóng rẫy thơm nhức mũi, ăn kèm rau thơm, mùi, ngò, dấp cá, hành củ chấm tương ớt pha gém chua. Đủ vị cay bùi,béo, vị ngon ngọt ngấm từ chân răng cho đến chân tóc. Đã vậy rượu ngang nút lá chuối êm đềm chỉ sau vài tuần rót đã đưa thực khách từ ven hồ lên chốn bồng lai. Các thi sỹ ở cấp con nhái lên thành con cóc. Còn thi tài thật sự thì cạn ba chai chuyển hệ từ thơ bút tre sang bút lông rất là lả lướt. Ngồi ven hồ, ngắm tàn bàng đỏ lá mặc gió hồ mơn man với kẻ qua người lại, thu dòng đời qua ly rượu ngang trong vắt thì chuyện thế tục nào có nghĩa gì?Nhiều người không đi sâu vào tìm hiểu thì món dây nướng hoặc các món khác cũng vậy, biết cũng chỉ lơ mơ. Như món dây này nhé, nhiều người cứ nhầm nó với món ngầu pín là món ăn Tàu. Nguyên liệu ngầu pín là trym bò tẩm ướp chủ yếu là ngũ vị hương còn dây nướng là trym heo. Gia vị khác hẳn. Ngoài muối, tiêu, nước mắm, dầu ăn thì trong ngề mới biết nó thơm điếc mũi nhờ chao trắng, mật ong. Nhậu đến đâu biết đến đó, tuyệt ngon.Người ta hay nói “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Hai “món” đầu đã dùng thì thấy nhà Tây đúng là nhất thật. Món ăn Tàu: không dám chê nhưng nói thật, không để đâu cho hết ngấy vì món nào cũng lắm dầu quá mà gia vị lại không hợp. Có lẽ món ăn Tàu nó nổi tiếng do giới hủ nho cứ thổi thốc lên chăng. Cái sự hoành tráng chắc gì đã hay. Lịch sử có chuyện dân Mãn châu thôn tính Trung Hoa trước đây, người Hán bị phân biệt đối xử và coi rẻ. Khang Hy vua nhà Thanh muốn giải quyết tranh chấp bằng cách tổ chức một đại tiệc tại Tử cấm thành do đầu bếp của Mãn và Hán cùng thực hiện. Bữa tiệc kéo dài ba ngày ba đêm người Tàu gọi là Mãn Hán toàn tịch với 320 món, trong đó có món ngầu pín xối mỡ. Nghe đâu hồi 1973, Tổng thống Ních sơn sang thăm Trung Hoa cũng đã được Mao và Chu Ân Lai cho xơi món này (Nhưng không biết Mao có giới thiệu rõ với Ních đó là trym bò không?).
 
Món này lâu lâu ăn cũng tạm tạm nhưng thua dây nướng thấy rõ. Sang Tầu đi ăn nhà hàng khách sạn một tuần chỉ mong về nhà cho mau. Tối ngồi nhà, ăn bát cơm với rau muống chấm tương hoặc chấm nước mắm chanh ớt đập nhánh tỏi kèm quả cà pháo thì nhất. Ăn xong, húp bát nước rau đánh sấu xanh thấy sướng nhất trần đời. Món vợ Nhật thì không biết thế nào. Chỉ nghe các cụ kể mấy anh “Akuto sằng” đi làm về, cô vợ cởi giầy, rửa chân thì thấy nó mất rân chủ quá. Nước mình là nước rân chủ, Ô sin nó cưỡi lên cổ mấy chục năm quen rồi nên cứ nghĩ đến chuyện để vợ nó cung phụng quá thể như thế đâm ra chưa thử đã thấy…mất sướng.Quay lại món dây nướng. Thịt nướng nó hợp than hoa quá chừng đi. Tuy biết rằng nếu nướng thịt quạt than từ lúc thịt sống cho đến khi lên đĩa thì quá tuyệt nhưng khách đông làm sao kịp đủ cho bán hàng. Vậy nên người ta phải chiên chín đến bảy phần, sau đó mới đem ra lò để quạt than. Kể cả đĩa dây cũng có độn đến phân nửa là gân. Cứ gạt ra xem kĩ biết ngay, miếng dây ở giữa có lỗ (thì nó là trym mà lại) còn gân thì đặc nguyên. Không sao. Đã nói phải nói cho có ngọn có nguồn thôi chứ chuyện pha phách đấu chác đâu chả có. Ví như thành ngữ có câu “treo đầu dê bán thịt chó” chẳng hạn. Bỏ qua cái ý nói về chuyện giả trá, lọc lừa. Ta chỉ nói về khía cạnh thực phẩm, như vậy thành ngữ có ý khẳng định thịt dê hơn hẳn thịt chó. Thật ra thịt chó chắc gì đã kém cạnh thịt dê kể cả về hương vị cũng như hàm lượng dinh dưỡng. Có lần hỏi đầu bếp Tàu về món chân chó tiềm thuốc bắc, chú khách bảo: “ Sư phò của ngộ truyền cho làm món này. Ông bảo món này bổ dưỡng lắm. Con dê bị sói đuổi nó chạy một phút 200 bước, nhưng con chó đi săn thỏ một phút chạy được 300 bước. Vậy cái chân con chó quý lắm, tốt lắm, hay hơn con dê nhiều chứ”. He he, chưa biết chừng rồi đây thành ngữ sẽ đảo là “Treo đầu chó bán thịt dê” cho coi.
Món dây nướng nên dùng với rượu quê ngon thì tuyệt hơn là dùng với bia. Trước đây có thời cỗ bàn hễ chơi sang là phải có bia. Có lẽ nó cũng là cái chuyện xu thời, lụy thế mà thôi. Rượu nó có cái tao nhã của nó. Xưa cụ Nguyễn Công trứ viết: “Thảnh thơi thơ túi, rượu bầu”. Còn danh sỹ Tản đà:
Trăm năm thơ túi, rượu vò,
nghìn năm thi sỹ, tửu đồ là ai
Thời bây giờ có bác Nguyễn trọng Tạo làm thơ về rượu có hai câu bất hủ:
Sông Hương hóa rượu ta đến uống
Ta tỉnh, đền đài ngả nghiêng say
Thật tình nói chuyện ăn uống (người ta lịch sự gọi là ẩm thưc) rất ngại. Như Phùng Quán lúc sinh thời bảo rằng: “Tôi có quyền gì được no hơn nhân dântôi một miếng ăn ?” nghe rất đau xót. Nhất là khi dân mình còn thiếu đói. Chưa kể miền Trung lũ lụt triền miên, nhiều người đói quá ăn cả trâu chết, tránh nước lũ vào hang núi sống như người nguyên thủy. Lúc này nói chuyện ăn uống mãi sao đành.Lại nói việc vừa rồi, Trung Quốc nó bắt giam ngư phủ Việt nam khi đang hành nghề trên biển của ta, lại bắt giam ngay trên đảo Hoàng sa là nhà của ta mà nhà nước ta còn phải giao thiệp hỏi nó mới đau. Nhưng dù sao việc 9 ngư dân ta còn sống và đã liên lạc được với đất liền cũng là sự mừng vui để “thả lỏng” một chút mà tán chuyện nhậu đổi gió đổi máy nhể ?
mai xuân dũng

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

BỖNG DƯNG MUỐN CHỬI

Mai xuân dũng 16/10/2010
 
Photo Net Trông ngóng tin chồng con 
Đang ngồi cửa nhà, bỗng dưng muốn…chửi quá đi mất. Mặc dù biết chửi là hành vi chết đói văn hóa, mặc dù biết sự chửi là dấu hiệu bất lực toàn phần.Thấy vẻ mặt ngầu ngầu, vợ đưa chồng cái máy đo huyết áp giọng cực kì Điêu thuyền: Nào đưa tay trái đây, để xem nào không khéo huyết áp lại lên rồi. Đang giao mùa, tiết Giời độc lắm, không giữ gìn ốm ngay.Mịa, vợ là sư tử nhưng lại cầm tinh con cáo (mèo zừ hóa cáo ) nên nguy cơ cao gấp đôi cho chồng, nếu là chồng cầm tinh con vịt. Hôm nay là ngày đầu uýc ken nên việc dễ dãi, ân cần điều là thường thấy của các vợ khôn. Riêng cái vụ cầm tay đo huyết áp đã là một thông điệp quá rõ: “đừng bí bơ lượn lờ. Hai ngày cấm trại rõ chửa”.Tiền nhân dạy chả bỏ đi câu nào. Lạt mềm buộc chặt. Ôi thôi, các bác cạ bia ơi, hôm nay thì…đường ai , ai cứ đi, đừng về bên quán nọ, để mặc tôi với…vợ…
Lúc trước, bỗng dưng muốn chửi nhưng chưa chửi, nhưng bây giờ thì phải chửi thật. Bá ngọ thằng Bá Kiến, bá ngọ thằng Chí phèo, bá ngọ thằng tay sai của Chí phèo. Ai đời sống giữ thời đại thông tin thế này mà muốn mua một tờ báo chính thống loại hàng đầu như báo Nhân dân-cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt nam mà không mua được có tức không cơ chứ.Hỏi thằng bé bán báo dạo đi qua cửa:
- Cho chú tờ Nhân dân. Nó nhìn mình như ca ve nhìn Hai lúa:
- Không có
- Cho tờ Quân đội nhân dân vậy.
Thằng bán báo dạo ngó mình một phát rồi bỏ đi. Điên.Mấy cha nhà thầu thi công điện ngồi xế cửa đang trà lá quay sang “bác cứ chơi khó, mấy đứa bán báo nhập Nhân dân với Quân đội để bán cho ma nó mua à. Nói thật với bác, ba chục năm ngồi hàng nước em chưa thấy ai mua mấy tờ ấy. Không tin bác xem sạp báo cả nước có hai tờ ý bác chặt đầu em đi”.
Khổ. Mấy chú này không biết, hàng ngày mình ở cơ quan đọc báo chùa chứ có mua bao giờ đâu mà biết, chẳng qua là ngày nghỉ ở nhà, lại rớt Nét mới phải mua, lại cũng muốn biết mấy tờ báo đầu não của đảng nhà nước có đăng tin gì về số phận 9 ngư dân ta bị Trung Quốc bắt bớ, nói là đã thả ra suốt cả tuần nay giờ vẫn biệt vô âm tín. Bực mình.
  
Sang hàng xóm lướt web nhờ.Cổng đảng, chính phủ điện tử không thấy đề cập gì số phận của ngư dân, may có Tuổi trẻ online đưa tin: Đối với việc tìm kiếm cứu nạn của các cơ quan trong nước, Bộ Ngoại giao cho biết từ chiều 14-10, Ủy ban quốc gia Tìm kiếm cứu nạn VN đã đề nghị Bộ tư lệnh bộ đội biên phòng thông báo cho biên phòng các tỉnh thành ven biển và ngư dân VN đang hoạt động trên biển Đông phối hợp tìm kiếm tàu và các ngư dân. Tiếp đó ngày 15-10, Ủy ban quốc gia Tìm kiếm cứu nạn đã phát thông báo tìm kiếm cứu nạn hàng hải về tàu cá QNg-66478 TS nhưng đến 18g cùng ngày vẫn chưa liên lạc được với tàu và các ngư dân. Tuy nhiên, trong ngày 15/10. Pv Tuổi trẻ nhiều lần liên lạc với trung tướng Trần Quang Khuê-phó chủ tịc thường trực Ủy ban tìm kiếm cứu nạn quốc gia và ông Phạm Hoài Giang-chánh văn phòng Ủy ban-đẻ tìm hiểu nhưng cả hai vị đều từ chối trả lời với lý do bận họp (?)
Hôm nay 16/10 rồi vẫn thế thôi. Chẳng thằng nào thèm ngó đến dân. Báo chí cũng lờ đi.Bá ngọ thằng Bá Kiến, bá ngọ mấy trăm thằng Chí.

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

NỖI KHIẾP SỢ NOBEL

mai xuân dũng 13/10/2010
                  
Giải Nobel Hòa bình không chỉ vinh danh các cá nhân được trao giải mà còn làm rạng danh cho quốc gia của họ. Có lẽ chỉ Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới tỏ thái độ hằn học, hoảng sợ trước giải Nobel Hòa bình được trao cho công dân của nước họ: ông Lưu Hiểu Ba.
Để thấy rõ hơn thái độ vô lý của nhà cầm quyền Trung Quốc, chúng ta hãy tìm hiểu một chút về giải Nobel Hòa bình.
Giải Nobel Hòa bình là một trong 6 giải Nobel danh giá nhất thế giới trong các lĩnh vực: Hòa Bình, Vật lý, Hóa học, Y học, Văn học và Kinh tế.
Một trăm năm lịch sử giải Nobel, chưa bao giờ Trung Quốc, một quốc gia rộng lớn, đông dân nhất thế giới có được vinh dự lớn lao này trừ hai người là Đức Đạt Lai Lạt Ma, thủ lĩnh tinh thần Tây Tạng và Lưu Hiểu Ba.
Đức Đạt Lai Lạt Ma được Ủy ban Nobel Hòa bình Na Uy trao giải năm 1989 để vinh danh người đã đấu tranh đòi dân chủ, tự do với nhà cầm quyền Trung Quốc. Theo công trình nghiên cứu của Giáo sư Eric Sharp thuộc đại học Sydney, thế kỷ 20 có 3 Thánh nhân Á châu là Ra bin dranath Tagore, Mahatma Gandhi và người thứ ba chính là vị Lạt Ma thứ 14 này.
Và vừa qua, Lưu Hiểu Ba là một nhà bất đồng chính kiến được vinh danh. Ông là một người lên án chính quyền gây ra vụ thảm sát đẫm máu học sinh, sinh viên Bắc Kinh tại Thiên An Môn. Lưu Hiểu Ba cũng là người đấu tranh bất bạo động và bị chính quyền kết án 11 năm tù vì soạn thảo Hiến chương 08 kêu gọi dân chủ đa đảng và tôn trọng nhân quyền ở Trung Quốc. Hiện nay bà Lưu Hà, vợ ông hiện cũng đang bị chế độ độc tài giam lỏng sau khi đi thăm chồng để báo tin về giải thưởng Nobel năm 2010 được trao cho ông.
Hầu hết nhân dân yêu chuộng Hòa bình, tự do, dân chủ trên toàn thế giới đều biết đến tính chất cao quý, vinh dự và tầm quan trọng của giải Nobel mang lại. Nhưng giải thưởng cũng là một cái tát vào bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính thể hiện nay ở Trung Nam Hải, đe dọa chế độ chính trị hà khắc và lừa mị của họ. Sau vụ bạo động Thiên An Môn và gần đây là Tân Cương, chế độ độc tài Trung Quốc buộc phải đẩy mạnh phát triển kinh tế bất chấp hậu quả tồi tệ trong tương lai, đồng thời lừa mị dân chúng bằng kích động tinh thần đại Hán để cố giữ thể chế độc tôn. Họ tuyên truyền sự rối ren ở Thái lan bằng cách đổ lỗi cho việc nước này cho phép dân chúng hưởng quá nhiều quyền tự do dân chủ.
Nhưng thế kỷ hiện nay là thế giới của Internet thông tin toàn cầu chứ không phải là thế giới của moóc-xơ. Nhân loại không phải là những chú gà gô mà là những người biết lập luận. Họ hiểu rõ việc nổi dậy của nhân dân Đông Âu tự giải phóng mình cũng như các dân tộc khác là kết quả tất yếu của một quá trình đi lên của lịch sử chuyển từ chế độ độc tài chết đói sang một chế độ tự do dân chủ thực sự có bánh mì, áo ấm và công bằng.
Các nước dân chủ lâu đời như Thụy sỹ, Thụy Điển, Anh Quốc, Hoa Kỳ…vv…là những nước giầu mạnh, văn minh và nhân đạo chẳng bao giờ có nổi loạn cả. Tất cả các quốc gia đều yêu hòa bình và tự hào nếu đất nước họ có những cá nhân được tôn vinh bằng giải Nobel.
Vậy mà riêng nhà cầm quyền Trung Quốc phản đối một cách hèn hạ giải thưởng lớn lao thế giới dành cho công dân của họ. Hiểu theo một nghĩa khác, Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo đang chống lại Hòa bình thế giới, chống lại loài người.
Lịch sử thế giới đương đại đã lưu danh các bạo chúa Hít le, Sta lin, Pôn pốt, Kim chong In, Mao Trạch Đông.
Tội ác diệt chủng, giết người, bức hại cầm tù dân chúng của năm nhà độc tài trong lịch sử cận đại và đương đại này thực tế đã được ghi nhận như những kẻ chống lại hòa bình thế giới và con người. Dù rằng nhân loại không cổ súy cho sự khơi gợi hằn thù nhưng việc lưu trữ tài liệu nghìn năm cho hậu thế như một biểu hiện nhắc nhở nhân loại chớ thờ ơ với tội ác. Tiếng nói của lịch sử, tiếng nói của nhân loại yêu chuộng hòa bình thế kỉ 20, 21 đã làm chùn tay các nhà độc tài khát máu. Chính vì thế, các hành động tội ác man rợ giết hại hàng triệu người như Hít le, Sta lin, Pôn pốt, Mao Trạch Đông đã  từng làm không còn tự do hoành hành nữa. Những hành động hiếu chiến đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, ngục tù hóa đất nước bằng bàn tay cảnh sát, mật vụ như Kim chong In ở Bắc Hàn nếu không được các nước tiến bộ trên thế giới ngăn chặn thì không hiểu số phận của 24 triệu dân Triều tiên và hàng trăm triệu con người trên trái đất sẽ ra sao.
Trước đây, ai cũng biết hai quái thai Pôn pốt và Kim chong In là do Trung Quốc dựng nên, chỉ huy, nuôi dưỡng nhằm mục đích mượn tay chúng tiêu diệt, khống chế các quốc gia lân bang để phục vụ mưu đồ thôn tính lãnh thổ của họ. Ngày nay Trung Quốc buộc phải sử dụng chiếc mặt nạ “phát triển hiền hòa” để che giấu phần nào tham vọng xấu xa của họ với thế giới. Chiếc mặt nạ đó là Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo với chính sách Đế quốc mềm.
Tuy nhiên, với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhưng thiếu bền vững như hiện nay ở Trung Quốc, sự đói khát tài nguyên đang làm cho tham vọng lãnh thổ của giới cầm quyền trở nên sôi sục hơn bao giờ hết. Việc Trung Quốc hung hãn đòi hỏi chủ quyền tới 80 % lãnh thổ biển Đông là một ví dụ quá rõ ràng cho thấy khi cần, họ sẽ sẵn sàng vứt bỏ chiếc mặt nạ “phát triển hiền hòa” để có các hành động đe dọa và tấn công các quốc gia lân bang bằng bạo lực.
Đứng trước nguy cơ này, tất cả nhân dân Việt nam đều mong muốn các nhà lãnh đạo nhà nước tuy cần mềm dẻo với Trung Quốc nhưng hết sức cần thiết tỏ rõ thái độ kiên quyết bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của cha ông đã đổ biết bao máu xương nghìn đời truyền lại cho con cháu hôm nay. Bất kể hành động nào theo đuôi nhà cầm quyền phương Bắc, bán rẻ Tổ Quốc mong vinh thân phì gia như bè lũ Lê Chiêu Thống trong lịch sử trước đây, dù có che đậy kĩ đến đâu cũng sẽ bị nhân dân nghìn đời phỉ nhổ.
mai xuân dũng



CÀ PHÊ CÀ PHÁO

Mai xuân dũng 12/10/2010  
  
Chiều nay phải bỏ bia hơi để cà phê cà pháo với hai thằng tây mới đau. Mấy ông bạn cạ bia bọt cú lắm. Nhưng bù lại, câu chuyện đem đến vài thông tin đáng suy ngẫm và đáng dành thời gian ngồi gõ vào máy tính.
Nói chung, bọn tây trẻ khu vực Bắc Mĩ ít uốn éo trong giao tiếp. Chúng chả ngại bất cứ chuyện “nhạy cảm” nào từ chuyện chính sách đối ngoại của Tổng thống Ô bá mà bị dân chúng bang Arizona chửi bới thế nào cho đến chuyện thanh niên bang Michigan tranh luận về vấn đề thủ dâm nữ ra sao. Còn khi bị hỏi rất soi mói, bọn nó hiếm khi trả lời quanh co kể cả những vấn đề cần quanh co một chút. Dễ chịu.
Hôm nay chúng nó bị in tờ viu là chính.Thằng Luck sang đây học về văn hóa phương Đông được hơn một năm mà vốn từ hơi bị đông. Phải cái phát âm còn cứng quá. Nó chỉ vào bộ râu quai nón và bảo: “ học tiếng Việt được ba tháng nó phải bện viện làm trị liệu cơ mặt vì nói tiếng Việt sái quai hàm”. Thằng Tom nói thõi hơn thằng Luck nhiều. Lần trước gặp nhau, hỏi nó ở Hà nội, thích bia gì, nó cười hềnh hệch: “Nói chung bia gì cũng thích, trừ bia đá ra”. He he, thấy nó tanh chưa nào?
Biết mình tiếng Anh phọt phẹt nên Tom “chơi” luôn tiếng Việt giọng Hà nội. Nói đúng ra, mình lại ưa giọng xè goòng của thằng Luck hơn. Nói chung đó là gu của mình. Mình khoái nghe giọng Huế hoặc Sài gòn, nhất là khi nghe chị em ở trỏng hót thì mê lắm. Thấy thằng Tom kè kè mấy quyển sách, Mình bảo:
- Chúng mày sang đây có đọc nhiều không?
- Có chứ, đọc lòi mắt. Hai thằng đều cười.
- Mày nói Lòi mắt hay Lồi mắt?
- Lòi ý mà. Lờ oi loi huyền lòi. Lại cười
Mình cười to hơn chúng nó, cái vần Lờ và Nờ chúng nó phân biệt âm khá ra phết, khối anh phát âm quen tiếng địa phương choáng đấy.
- Thế chúng mày đọc cái gì ? Thằng Luck trả lời:
- À, đọc Truyên kiêu bằng chữ nôm, kiêu, kiêu…
- Truyện Kiều, Nguyễn Du (mình nhắc). Nó cười, thanh quản tây không cho nó phát âm được chữ Kiều. Luck hài hước:
- Mày xem chỗ nào cho thuê thanh quản mách tao nhé, nếu không tốn nhiều tiền quá. Mình trêu nó:
- Nếu muốn thuê lưỡi thì tao sẽ mách chỗ cho.Cả bọn cười vui vẻ. Mấy em phục vụ bàn hay nghe lỏm cũng bấm nhau cười rúc rích.Nói chung chuyện không ra đầu ra đũa.
Nhân chuyện đọc sách, mình hỏi chúng nó nghĩ thế nào về trí thức Việt nam. Thằng Tom tỏ ra hơi đăm chiêu và cố tìm từ cho chuẩn xác. Nó cho rằng trí thức Việt giỏi nhưng phần nhiều thiếu thực tế và mất cân đối trong cuộc sống. Mình yêu cầu nó cho ví dụ để đi đến nhận định như vậy. Tom bảo:
- Việt nam có nhiều người học giỏi. Nhưng đi vào thực tế cuộc sống, những người đó mất phương hướng. Một số có khả năng nghiên cứu chuyên sâu nhưng họ quay sang lĩnh vực quản lý nhà nước. Rất phí kiến thức và năng lực. Lĩnh vực đó họ không có khả năng. Cấp trên của họ kì vọng ở họ nhưng cấp trên không hiểu rằng lĩnh vực quản lý có tính đặc thù mà những người làm khoa học chuyên sâu không thể làm được. Cũng có thể các sếp của họ biết thế nhưng vẫn tuyển dụng họ vì chỉ cần hình ảnh của nhà khoa học làm nền, làm dáng cho bộ máy nhà nước mà không cần họ có được việc hay không. Nước chúng mày rất lạ. Nói là cần người hiền tài nhưng người hiền tài ở cơ quan nhà nước hay bị vô hiệu hóa, bị cô lập. Xã hội Việt nam vẫn coi thường trí thức. Có lẽ do đố kị. Nhiều người Việt nam không chịu thừa nhận có kẻ giỏi hơn mình. Đó là sự tự ti nhưng biểu hiện theo cách quá tiêu cực. Khi bất lực trước những cái đầu mẫn tiệp hơn mình, họ thường tỏ ra Chí phèo, phủ nhận tuốt tuột.Mình bảo nó: “đó là tính ghen tuông thôi, khi yêu người ta rất hay ghen”. Tom không hiểu cách nói “lèo lái” của mình nên nó không chịu, cãi bằng được. Còn thằng Luck thì đọc bốn câu Kiều như để minh họa cho cái vị trí đáng buồn của mấy bác trí ngủ nước ta:
Lãnh lời nàng mới theo sang
Biết đâu địa ngục Thiên đàng là đâu?
Sớm khuya khăn mặt, lược đầu,
Phận con hầu, giữ con hầu dám sai
Thằng Luck nói thêm:Nước mày các ông lãnh đạo không nói được tiếng Anh. Nhiều ông có bằng Tiến sỹ không nói được tiếng Anh là chuyện rất lạ. Lạ hơn cả là các ông ấy nói trân trọng trí thức nhưng trong thâm tâm rất ghét trí thức.Thằng Tom nói rõ hơn:
- Một trong những lý do đó là trí thức hay soi mói. Soi mói cả cái bằng cấp của lãnh đạo. Tất nhiên, nước mày có nhiều người dùng bằng ĐEO.
Mình không biết loại bằng này nên hỏi lại nó và bắt nó đánh vần nhưng nó nhe răng ra cười. Chịu. Đành viết ra giấy. Nó viết “BẰNG ĐỂU” !(Có Bọ Lập ở đây chắc bọ lại giơ tay lên kêu Ua chầu chầu).
Mình nghe cú lắm, thấy xấu mặt lây nhưng biết làm sao. Chúng nó nói thật quá. Người mình hay có tính đánh giá thấp người khác, nhất là người dốt. Càng dốt thì càng tự phụ. Một phần do ảnh hưởng của bộ máy tuyên truyền một thời. Lãnh đạo bơm vào tai quần chúng rằng: “Chúng ta trước kia, hiện nay cũng như mãi mãi sau này luôn ở đỉnh cao trí tuệ” nên mọi ý kiến trái chiều sẽ bị đưa vào hai dạng: nếu không ngu thì đích thị là các thế lực thù địch cả.
Thằng Luck biết cách thưởng thức món tiếu lâm dân gian Việt nam. Theo nó, Tiếu lâm là một món tương tự Tiết canh heo. Bụng dạ tốt thì không sao, bụng dạ xấu là đau ngay, té re liền. Nó kể lại cho mình nghe chuyện về quan chức, trí thức, văn nghệ sỹ và cánh cạo giấy nhà nước: “ Chung cư ở Việt nam có lẽ không cần toilet vì nhân viên nhà nước đến cơ quan, dành phần lớn thời gian để trà lá và đi ị nhằm giết thì giờ. Họ là tầng lớp tỷ phí thời gian. Ở cơ quan họ chẳng có việc gì để làm. Trí thức và văn nghệ sỹ cũng không cần toilet vì ị ra cục nào họ đút vào miệng nhau. Các quan chức cũng không cần toilet vì các ổng quen ị lên đầu nhân viên hoặc nếu lỡ ị ra cơ quan thì không lo, họ rất sẵn các nhân viên tranh nhau hốt ngay vì chất thải của quan chức Việt nam quá nhiều dinh dưỡng”.
Chuyện này mình biết lâu rồi nhưng nghe bọn tây nói ra đúng là “chuối” thật. Cáu tiết, ứ hơi vô cùng nhưng chúng nó có luận chứng, luận cứ để chứng minh sự thật là thế, dẫu mình có lòng tự hào chế độ bao nhiêu cũng không thể bao che nổi. Thế mà các quan nhà ta cứ tưởng chúng nó không biết gì. Thậm chí những chuyện mình không biết về đời tư, lịch sử bác nào xuất thân hoạn lợn ra sao, đỡ đẻ thế nào chúng nó còn biết vanh vách.
Mẹ kiếp, cái thời Internet toàn cầu mà các bác cứ quen giấu giấu diếm diếm mọi chuyện như lũ mèo. Chán.Thôi chuyện đó bỏ, không nói. Thối lắm. Quay sang chuyện Trí ngủ trí thức cái. Thằng Luck nói như an ủi:
- Mày đừng buồn. Nước tao 200 năm trước cũng thế (!) giới trí thức nếu ở giai đoạn chuyển tiếp giữa hai thời kì lịch sử, hai thế hệ cũng có những va chạm đáng tiếc, kìm hãm sự phát triển tinh thần của dân chúng. Lớp công thần vì trót dại tung hô cái dở, cái sai quấy (thì cũng là cái sai lịc sử thôi, thời điểm lúc khởi phát là đúng) nên buộc phải nhắm mắt trước thực tế để bảo vệ ý tưởng của mình. Bảo vệ quan điểm của mình thuận theo nhà cầm quyền nghĩa là bảo vệ nồi cơm của mỉnh.Ví như cái bánh mì mới ra lò rất ngon, rất thơm nhưng để lâu với thời gian, bánh bị phân hủy, nhiều nấm mốc và khuẩn độc, ăn vào có thể ngộ độc. Nhưng bác thợ làm bánh lo cho uy tín cá nhân mình sứt mẻ nên bắt người ta phải tin là bánh vẫn thơm ngon tuyệt vời. Ai nói là bánh thiu, bác bịt mồm lại. Cho nhịn ăn luôn. Khổ thế. Thằng Tom bổ xung cho rõ nghĩa:- Thực ra bác thợ bánh là người tốt. Chỉ có điều bác ấy tốt với chính bác ấy thôi. Nếu ảnh hưởng tới bác ấy là bác cáu, thay vì bánh mì bác ấy sẽ nhét than nóng vào mồm người ta.
Chủ đề này nghe đau cái lỗ nhĩ quá. Mình chuyển qua chuyện xì tin.
- Chúng mày thấy lớp trẻ Việt nam thế nào? Luck cười: “mày cũng quan tâm 9x à?” Bọn tây cái gì cũng cười được. Chúng nó “lạc quan cách mạng” hơn cả những người cộng sản. Tom bảo:
- Trí thức trẻ của chúng mày sống trong hòa bình, có nhiều điều kiện thuận lợi về kinh tế, xã hội hơn lớp già, họ thông minh, nhạy bén nhưng cũng thừa hưởng cách nghĩ thời chiến nhiều độc hại của lớp già. Nhưng vì họ trẻ, năng động nên khi tiếp thu cái mới, họ vượt qua được lối nghĩ thời chiến đó. Họ rất chán khi thấy lớp già quá bảo thủ, công thần, mê mụ không đủ sức hoán cải nên mặc xác, thỉnh thoảng chọc chơi đám trí thức già nổi điên lên cho vui. Một số trí thức già thích tầm chương trích cú lắm, nhưng “cú” ấy, “chương” ấy toàn của China, ấu trĩ lắm rồi. Đến ngay China họ còn thấy lỗi mốt mà các ông già của chúng mày cứ vơ lấy làm như tinh hoàn dân tộc mới lạ.
- Cái gì tinh hoàn?... À, Tinh hoa dân tộc chứ.Lại là vấn đề cấu trúc thanh quản của các vùng địa lý Âu - Á đây? Hay chúng nó có ý gì không ?
Việc đó bỏ, cái chính là cốt lõi vấn đề ra sao. Mình nghĩ bụng vậy.Thằng Luck ngọng hơn Tom nhưng nó suy nghĩ khá sâu. Nó nói:
- Sự gắn kết của hai thế hệ người Việt mất đi do cuộc chiến tranh đem lại. Nền giáo dục thời thuốc nổ đầu độc một thế hệ trong và sau cuộc chiến. Họ bị ngộ độc quan niệm địa lý Khu vực. Họ chỉ biết đến Mảnh đất này là của chúng ta chứ họ không có khái niệm Trái đất này là của chúng ta. Nước chúng tao cũng còn nhiều người không chịu hiểu khái niệm này. Kể cả một số nhà lãnh đạo đất nước. Thế đấy.Chuyện thì dài dài nhưng thôi, mình là một người thực tế. Bây giờ mình cần một vại bia hơi Halida (mấy nhà hàng bia hơi Hà nội bây giờ đấu chác vào nhiều bia cỏ quá, uống vào đau đầu kinh khủng).
Kết loạn, mình hỏi chơi một câu báo hiệu cho chúng nó “thời lượng” cuộc chat face to face đến hồi kết thúc:
- Theo chúng mày, tương lai hòa hợp của các thế hệ trí thức Việt ra sao? Liệu có sớm tốt lên không?
- Chúng mày chưa có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa. Số đó chưa nhiều để tạo ra một tầng lớp thật sự. Nghĩa là chưa đủ sức mạnh cuốn hút. Trí thức đúng nghĩa bao hàm: những con người có kiến thức, được đào tạo chuyên sâu, họ còn phải là người hiểu biết sâu sắc các vấn đề xã hội liên quan đến quốc gia, quốc tế. Có sự quan tâm và dấn thân vì mọi người cho các lý tưởng phù hợp với các chuẩn mực dân sự quốc tế. Nếu gộp những người làm công tác nghiên cứu khoa học, những người làm công tác văn hóa nghệ thuật là trí thức thì những người này sẽ biến đổi theo thời gian thôi. Có điều sự hòa hợp của hai thế hệ và những người cùng thế hệ với nhau sẽ chậm hơn các nước phát triển khác vì khối trí thức ở nước chúng mày đang trong thời kỳ trứng vịt lộn. Để đủ nhân cách, đủ năng lực làm những người trí thức đúng nghĩa thì đơn giản phải Biết Tôn trọng mọi ý kiến Khác biệt. Nhưng điều đó phụ thuộc không chỉ thời gian mà còn phụ thuộc những cái đầu Quyền lực. Hy vọng chúng mày sẽ sớm thoát ra.
Mẹ kiếp. Cái từ “thoát ra” (leave mess) mình không nhớ nó có phải là một từ đa nghĩa hay là một thành ngữ. Về tra lại từ điển xem sao.
mai xuân dũng