Thứ Năm, ngày 28 tháng 2 năm 2013

CÔNG AN CHƯƠNG MỸ-HÀ NỘI BẮT NGƯỜI CÓ TUÂN THỦ TRÌNH TỰ TỐ TỤNG HAY KHÔNG?


28/2/2013


Xã Thương vực và xã Văn võ là điểm nóng của cuộc cưỡng chế đầu năm 2013 trong công tác quản lý đất đai và có nhiều khúc mắc ở huyện Chương Mỹ Hà nội (Hà tây cũ)

Nguyên nhân vụ bắt người trái phép của chính quyền ở đây có nguồn gốc từ ngày 11-9-2012. Để thông qua Đề án Dồn điền đổi thửa (DĐĐT), Tiểu ban DĐĐT thôn Trung Vực Trong đề nghị các hộ dân hiến 30 mét vuông/khẩu để làm giao thông thủy lợi và xây dựng các công trình phúc lợi. Điều này gặp sự phản ứng của người dân vì theo họ quỹ đất công còn rất nhiều, đủ để xây dựng hệ thống tưới tiêu và giao thông đồng nội. Ông Nguyễn Duy Tuấn, một người dân trong thôn bị cắt đến 90 mét vuông cho ba khẩu trong gia đình cho biết: “quỹ đất công của thôn còn hơn 55 nghìn mét vuông, trong khi nếu cắt 30 mét vuông/khẩu của toàn bộ người dân trong thôn thì chỉ khoảng 40 nghìn mét vuông. Nhỏ hơn nhiều so với quỹ đất công. Vậy cắt 30 mét vuông/khẩu của chúng tôi làm gì”. Điều này nhận được sự đồng tình của đa số người dân trong thôn. Tuy nhiên, trong Bảng Kết quả kế hoạch giao ruộng của Tiểu ban DĐĐT lại cho biết Hội nghị ngày 11-9-2012 đã biểu quyết nhất trí 100% của 82 đại biểu. Ông Đặng Đình Yên (74 tuổi) một đại biểu trong buổi họp ngày hôm đó cho biết, cuộc họp chỉ khoảng 40 người đến dự và chỉ nói đến chuyện DĐĐT, không hề nói đến hiến 30 mét vuông/khẩu.




Quá bức xúc vì cho rằng mình bị ép buộc gắp phiếu và hiến 30 mét vuông/khẩu, các hộ dân đã làm đơn lên xã để kiến nghị.

Điều đó dẫn đến vào ngày 31-1-2013, Huyện Ủy Chương Mỹ đã có chỉ đạo UBND tạo một cuộc họp với toàn thể người dân về Đề án DĐĐT. Sau khi nghe các ý kiến của người dân không nhất trí hiến 30 mét vuông/khẩu, ông Trần Đình Vững – Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Chương Mỹ phát biểu, cán bộ cấp thôn làm sai. Ông cho biết chủ trương của Huyện là không lấy một mét vuông đất của người dân sau khi DĐĐT. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn Doanh – Phó chủ tịch huyện có đề nghị tạm giao ruộng cho nhân dân để sản xuất. Sau vụ mùa, cơ quan quản lý sẽ thực hiện chia lại. Ý kiến này không được người dân đồng ý. Họ muốn chính quyền phải sửa sai ngay, thậm chí họ sẵng sàng bỏ luôn vụ Đông-Xuân để chính quyền có thời gian thực hiện. Tuy nhiên, điều này không được chấp nhận. Cuộc họp kết thúc mà chưa được thông qua biên bản.

Đến ngày 22 và ngày 26, Tiểu ban đã cho máy bừa vào bừa ruộng của dân. Hàng ngàn người đã ra  phản đối. Bên thôn Trung Vực chính quyền bắt 4 người nông dân.

                                      

             

            

Không đồng ý về việc chính quyền xã lấy mỗi khẩu 30m2 đất loại I để làm giao thông thủy lợi. Vì theo chỉ đạo của UBND huyện Chương Mỹ, chỉ lấy đất xấu chứ không thể lấy đất loại I. Người dân thôn Trung Vực Trong, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ đề nghị chính quyền địa phương phải giải quyết.

Đồng thời, theo quy định không được dồn ghép ruộng từ thôn này sang thôn khác, thì chính quyền UBND xã Thượng Vực tự ý đổi cho thôn khác.
Nhân dân thôn Trung Vực Trong đã bỏ ruộng không cày cấy.
Ngày 26/2/2013, chính quyền huyện Chương Mỹ xã Thượng Vực đã tiến hành cưỡng chế

Ngày 21/2/2013, trong cuộc cưỡng chế tại xóm Cộng Hòa, thôn Võ Lao, xã Văn Võ, huyện Chương Mỹ, có 6 phụ nữ bị bắt và tạm giữ tại CAH Chương Mỹ để lập hồ sơ trình VKS khởi tố.
Ngày 22/2/2013, 16 người thân của 6 phụ nữ trên mang hồ sơ lên trình các cơ quan chức năng thì bị cơ quan CAH Chương Mỹ bắt giữ lại dọc đường rồi đưa về trụ sở CAH thu giữ toàn bộ các loại giấy tờ liên quan.
Sáu phụ nữ đó là các bà:

1/ Đỗ Thị Yên.
2/ Nguyễn Thị Lẫng
3/ Nguyễn Thị Vân.
4/ Phan Thị Huấn.
5/ Vợ ông Độ.
6/ Vợ ông Uyên.

Các cơ quan pháp luật và truyền thông có trách nhiệm tới huyện Chương Mỹ để làm rõ sự việc và can thiệp không để tình trạng vi phạm luật pháp của chính cơ quan thi hành luật pháp tại địa phương hoành hành như hiện nay và trả lời trước công luận.

    Mai Xuân Dũng

BÀN VỀ VẤN ĐỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 NHÌN TỪ NGUYÊN TẮC CHỦ QUYỀN NHÂN DÂN


NGUYỄN CỬU VIỆT
Các Hiến pháp nước ta đều ghi nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (Điều 1 Hiến pháp 1946, Điều 4 Hiến pháp 1959, Điều 6 Hiến pháp 1980, Điều 2 Hiến pháp 1992). Đó là tuyên bố chung nhất về chủ quyền nhân dân. Bởi vì đó là vấn đề căn bản của Nhà nước và Hiến pháp, là mục đích và là nội dung xuyên suốt trong Hiến pháp, là nguyên tắc trụ cột của nhà nước pháp quyền. Do đó, thể hiện tốt, đầy đủ nguyên tắc đó, phản ánh được những thành quả của nhân loại về nội dung này là vấn đề cần tiếp tục phải bàn luận – tuy đây là vấn đề muôn thưở đã có rất nhiều tác giả đã bàn. Bài viết tiếp cận dưới góc độ nhận thức và thực tiễn áp dụng nguyên tắc đó, sau đó đưa ra một số kiến giải đổi mới quy định Hiến pháp 1992 hiện hành.   

Nói tới nhận thức về nguyên tắc chủ quyền nhân dân ở nước ta, bên cạnh các tác phẩm kinh điển, trước hết phải nói tới tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc này thể hiện trong các lời nói và trước tác, trong Hiến pháp 1946 – Hiến pháp thể hiện trực tiếp tư tưởng đó, thành quả của cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hiến pháp đầu tiên của nước ta, Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

1. Nguyên tắc chủ quyền nhân dân: Khái niệm, tư tưởng Hồ Chí Minh và Hiến pháp 1946

Nói về chủ quyền nhân dân là nói về dân chủ, vì, “dân chủ” là “quyền lực của nhân dân” (thuật ngữ “dân chủ” xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp với cụm từ “demokratia” được ghép từ “dēmos” là “nhân dân” và “kratos” là “quyền lực”)[1]. Ngày nay, một chế độ nhà nước trong đó các cơ quan chủ yếu của Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ) được dân bầu, không kể bằng hình thức nào (trực tiếp hay gián tiếp), cũng thường được coi là Nhà nước dân chủ. Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Nhà nước ta tham gia cũng ghi nhận một quyền con người cơ bản là: “Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn” (Điều 25, điểm a k.1).Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tư tưởng rất nhất quán về chủ quyền nhân dân/dân chủ và tư tưởng đó đã thể hiện trong những lời nói giản dị, đậm mầu sắc “dân gian” nhưng rất sâu sắc: “Nước lấy dân làm gốc”; “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”[2]. Tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng chủ quyền nhân dân xuất phát từ quyền con người, là một quyền con người cơ bản. Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và đọc trước Quốc dân ngày 2/9/1946, ở đoạn mở đầu đã dẫn những “lời bất hủ” trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và “những lẽ phải không ai chối cãi được” trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ quyền con người cơ bản, chủ quyền nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành quyền dân tộc tự quyết: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.”Chủ quyền nhân dân/dân chủ có thể được thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp.Hình thức dân chủ gián tiếp (hay dân chủ đại diện): dân bầu ra cơ quan đại diện cho mình, cách này thường được thực hiện phổ biến vì tính tiện lợi và hiệu quả, bởi mỗi người dân không thể thông hiểu việc nhà nước bằng những người đại diện do họ bầu ra. Trong các Nhà nước rộng lớn, đông dân, mỗi người dân không hiểu công việc nhà nước bằng các đại diện của mình. Tuy nhiên, để hình thức dân chủ đại diện thực sự thể hiện được ý chí của nhân dân thì luật bầu cử – luật chính trị cơ bản phải thật tốt và việc thực hiện luật đó cũng phải thật tốt. Dân chủ đại diện không chỉ thể hiện ở việc cử tri bầu ra cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND), mà cả việc bầu ra Tổng thống, Chủ tịch nước, người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương, v.v..Ở đây cần lưu ý tới ý kiến rằng, bầu cử cũng là một hình thức dân chủ trực tiếp. Chúng tôi không thể đồng tình với ý kiến này, vì như vậy là đã trộn dân chủ trực tiếp với dân chủ đại diện, làm biến mất dân chủ đại diện, và trái với quy định đã dẫn của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng như của hiến pháp các nước trên thế giới. Bởi vì, khi một cử tri bỏ phiếu bầu thì việc bầu chưa phải đã hoàn thành. Kết quả bầu cử được công bố có thể đúng như ý kiến (phiếu) của cử tri đã bỏ phiếu bầu hoặc không đúng. Dân chủ là nhân dân thực hiện quyền lực, hành vi bỏ phiếu bầu là một quyết định của một cử tri riêng lẻ, chưa phải là trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước, đó mới là bước gián tiếp trên đường thực hiện quyền lực nhà nước.Khi bàn về cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ rằng bầu cử phải thực sự dân chủ, tự do: “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết”[3].Trong kỳ bầu cử Quốc hội Khóa 1, ở Hà Đông có 97 vị ra ứng cử, bầu lấy 14 đại biểu, Nam Định – 70 lấy 15, Hà Nội – 74 lấy 6[4]. Như vậy mới là Ngày hội của toàn dân “đúng nghĩa”, như vậy Nghị viện nhân dân mới thật “là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (Điều thứ 22 Hiến pháp 1946).Dân chủ trực tiếp là đặc biệt quan trọng. Hiến pháp các nước từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776, Tuyên ngôn Dân quyền và công dân quyền năm 1789 cùng với Hiến pháp Đại Cách mạng Pháp 1793, các Hiến pháp hiện đại hầu hết đều ghi nhận ngay ở những điều đầu tiên nguyên tắc chủ quyền nhân dân và quyền nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện do dân bầu ra, kể cả những nước mới “chuyển hướng” như Hiến pháp các nước mới tách ra từ Liên Xô cũ và các nước Đông Âu.Trong lý thuyết hiến pháp và các thảo luận của những nhà “khai quốc công thần Hoa Kỳ” thì “dân chủ” cũng được hiểu chỉ là “dân chủ trực tiếp”, đối ngược với “dân chủ đại diện” được gọi là “cộng hòa”[5]. Cách giải thích giản dị hai từ “dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là “dân chủ trực tiếp”: “Nghĩa là có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn. Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được. Ấy là dân chủ”[6].Rõ ràng, quyền dân chủ trực tiếp là đặc biêt quan trọng, tuy nó không thể thực hiện phổ biến như dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện), và tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ trong Hiến pháp 1946 – Hiến pháp chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng ban hành cũng như quá trình soạn thảo, thông qua[7]. Quyền dân chủ trực tiếp trước hết được thể hiện ở quyền làm Hiến pháp và quyền phúc quyết (referendum – biểu quyết toàn dân) về Hiến pháp và về những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Lời nói đầu Hiến pháp 1946 ghi rõ: Quốc dân trao cho Quốc hội việc soạn thảo Hiến pháp, nghĩa là, quyền ban hành Hiến pháp vốn là của nhân dân (Quốc dân), Quốc hội (lập hiến) chỉ là nhận ủy quyền của nhân dân soạn thảo Hiến pháp mà thôi. Do đó, khi đã được Nghị viện thông qua, Hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết (referendum – biểu quyết toàn dân) thì mới có hiệu lực. Một Hiến pháp chỉ với 70 điều viết rất ngắn gọn, trong đó lại có Mục C Chương II với tên “Bầu cử, bãi miễn và phúc quyết” và dành tất cả 3 điều quy định về vấn đề này: Điều thứ 21 quy định quyền phúc quyết và loại vấn đề phải đưa ra nhân dân phúc quyết “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70”. Điều thứ 32 của Chương III “Nghị viện nhân dân” tiếp tục quy định nguyên tắc của trình tự đưa vấn đề ra phúc quyết ở Nghị viện và khẳng định “Cách thức phúc quyết sẽ do luật định”. Và cuối cùng, Điều thứ 70 quy định trình tự sửa đổi Hiến pháp với việc thực hiện quyền phúc quyết về việc sửa đổi Hiến pháp của nhân dân (điểm C Điều thứ 70).  Còn gì rõ ràng hơn, còn gì trân trọng hơn quyền phúc quyết của nhân dân, chủ quyền nhân dân trong một bản Hiến pháp chỉ 70 điều và rất ít chữ, cô đọng. Có như vậy thì tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân tại Điều thứ 1 mới là hiện thực. Ông Vũ Đình Hoè, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Nhà nước Việt Nam thời còn non trẻ, nói về Hiến pháp 1946 có lẽ không gì rõ ràng hơn, không gì hay hơn về quyền lập hiến của nhân dân, một nội dung chủ yếu của nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong nhà nước pháp quyền: “Hiến pháp “dân định”, chứ không phải Hiến pháp “khâm định”; không phải ai “ban” cho, mà do dân giành lấy. Hiến pháp do Quốc dân đại hội, Quốc hội ban hành, một Quốc hội đặc biệt – Quốc hội lập hiến – Chỉ sửa đổi Hiến pháp thôi thì Nghị viện nhân dân còn phải hội đủ phiếu thuận của ít nhất 2/3 số đại biểu có mặt (theo Điều 70 – Hiến pháp 1946). Đồng thời trước khi ban bố, Nghị viện phải tổ chức cho toàn dân “phúc quyết”. Vì lập Hiến pháp và sửa Hiến pháp là thuộc “những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” (theo Điều 32) [8].  Có như vậy trước hết vì Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rõ ràng rằng, để nhân dân được hưởng quyền tự do, dân chủ thì đất nước phải có Hiến pháp, vì vậy, trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” (1919) đư­ợc diễn ca thành bài “Việt Nam yêu cầu ca” ở điểm thứ bảy: “… Bảy xin Hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền…”[9] hoặc trong “Nhời hô hoán cùng Vạn Quốc hội” (1926) – đã dẫn ở trên, có điểm thứ ba: “Xếp đặt một nền Hiến pháp, theo những lý tư­ởng dân quyền.”Như vậy, từ những năm 20 của thế kỷ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rằng, trong Hiến pháp phải có tinh thần pháp quyền, mà tinh thần đó là theo những lý tư­ởng dân quyền. Một Hiến pháp không có nó thì không thể gọi là Hiến pháp của chế độ dân chủ. Người quan niệm Hiến pháp gắn với dân chủ. Khi đất nước Việt Nam còn nô lệ thì trước hết, Hiến pháp phải gắn với độc lập, tự do: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Thần linh pháp quyền” đó sau này được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nói và giải thích nhiều lần: “Chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ”[10]. Không chỉ Nhà nước, mà cả Chính phủ phải “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”[11] và “Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân”[12], mà cao hơn của lý tư­ởng dân quyền phải là: “Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ;”[13] “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dân chúng phải đạp đổ Chính phủ ấy đi và gây lên Chính phủ khác” (Đường cách mệnh)[14], hoặc: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ đi”[15].

2. Những quy định cơ bản về nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp 1959, 1980

Mặc dầu, hai Hiến pháp này đều tuyên bố tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhưng các quy định khác lại không thể hiện, không bảo đảm lời tuyên bố này.Về quyền ban hành Hiến pháp. Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 viết: Quốc hội ta cần sửa đổi bản Hiến pháp năm 1946 cho thích hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Và Điều 112 quy định: Chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Lời nói đầu của Hiến pháp 1980 thì không nói rõ như Lời nói đầu Hiến pháp 1959, nhưng Điều 83 khẳng định rõ: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp và Điều 147 cũng quy định y hệt như Điều 112 Hiến pháp 1959. Như vậy, quyền ban hành Hiến pháp của nhân dân, quyền dân chủ trực tiếp quan trọng nhất đã bị Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 lãng quên, phai nhòa trong quyền tối cao của Quốc hội tập quyền.

Về quyền phúc quyết của nhân dân. Hiến pháp 1959 chỉ viết tại khoản 5 Điều 53 về quyền hạn của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân. Hiến pháp 1980 cũng chỉ viết y như vậy tại khoản 6 Điều 100 về quyền hạn của Hội đồng Nhà nước. Như vậy, đây không phải quyền của nhân dân mà chỉ là quyền của cơ quan thường trực của Quốc hội (Hiến pháp 1959) và đồng thời là Chủ tịch tập thể của Nhà nước (Hiến pháp 1980). Mặt khác, khái niệm “trưng cầu ý kiến nhân dân” theo tiếng Việt, như chúng ta biết, được giải thích rất rộng, không chỉ là phúc quyết (referendum- biểu quyết toàn dân), mà còn là hỏi, tham khảo ý kiến nhân dân. Vì vậy, quy định này không có mấy ý nghĩa. Như vậy, chỉ mới dẫn mấy quy định cơ bản đã có thể thấy, nguyên tắc chủ quyền nhân dân bị nhận thức sai lệch, phai nhòa trong hai bản Hiến pháp này.

3. Những quy định cơ bản về nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và thực tiễn thực hiện

Lời nói đầu của Hiến pháp 1992 cũng y như Điều 83 Hiến pháp 1980 tuyên bố rõ ràng: Quốc hội làm Hiến pháp và Điều 83 khẳng định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”. Điều 147 Hiến pháp 1992 cũng quy định y như Điều 112 Hiến pháp 1959 và Điều 147 Hiến pháp 1980: Chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Như vậy, quyền ban hành Hiến pháp của nhân dân, quyền dân chủ trực tiếp quan trọng nhất cũng hoàn toàn bị lãng quên như các Hiến pháp 1959, 1980.Năm 2001, Hiến pháp 1992 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng. Khoản 1 Điều 2 (sửa đổi, bổ sung năm 2001:) quy định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN)của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. (Những chữ tác giả tô đậm trong đoạn này là mới sửa đổi, bổ sung năm 2001).

Tuy nhiên, không kể những chữ này, thì nội dung cũ của nó cũng đã thể hiện đầy đủ nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Nhà nước ta. Nhưng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (ý mới bổ sung) thì nguyên tắc chủ quyền nhân dân càng phải mang nội dung mới, đặc biệt là chủ quyền nhân dân trong Nhà nước phải gắn liền với những bảo đảm, một đảm bảo đầu tiên mang tính quyết định là việc quy định đầy đủ và thực thi các hình thức dân chủ. Cũng như Hiến pháp 1959, 1980, Hiến pháp 1992 cũng tuyên bố chủ quyền nhân dân trong Nhà nước (như đã dẫn trên) nhưng không quy định đầy đủ hình thức dân chủ trực tiếp, trong đó có quyền dân chủ quan trọng nhất là quyền ban hành Hiến pháp và biểu quyết toàn dân. Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Nhà nước pháp quyền hay Nhà nước pháp quyền XHCN thì dân chủ gián tiếp phải thực chất, không hình thức; dân chủ trực tiếp phải được thực hiện và phát triển. Dân chủ/chủ quyền nhân dân là bản chất của Nhà nước pháp quyền, nên xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền được đánh giá trước hết và chủ yếu qua quá trình xây dựng và hoàn thiện cả hai hình thức dân chủ. Đáng tiếc rằng, các quy định quan trọng nhất về các hình thức dân chủ của Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2001) vừa “dè dặt, ngập ngừng” vừa “không rõ ràng, mâu thuẫn”, thể hiện qua:Khoản 1 Điều 2 tuyên bố, Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN và nguyên tắc chủ quyền nhân dân (như đã dẫn), nhưng Điều 6 lại quy định Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND. Đến Điều 53 lại quy định quyền dân chủ trực tiếp: Công dân có quyền … biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Quy định này “không rõ ràng” vì không rõ khi nào thì Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, để giải quyết loại việc cụ thể nào, thủ tục ra sao, ở đâu quy định. Quy định dù tốt, rõ, mà không có những cái đó thì tuyên bố của Hiến pháp là không hiện thực và thực tế là như vậy). Đến Điều 83 khoản 2 lại khẳng định: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp và Điều 147: Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Như vậy, Điều  2 tuyên bố, Điều 6 phủ nhận Điều 2, Điều 53 lại mâu thuẫn với Điều 6. Điều 83 và 147 lại mâu thuẫn với Điều 53. Thật khó hình dung các quy định Hiến pháp về một vấn đề rất cơ bản mà mâu thuẫn nhiều đến vậy.Quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp của toàn dân, quyền dân chủ trực tiếp quan trọng số một lúc thì “quên” và “trao hết” cho các cơ quan dân cử, lúc thì quy định không chắc chắn, không rõ ràng. Như vậy thì làm sao thực hiện được lời Chủ tịch Hồ Chí Minh bao nhiêu quyền hạn đều của dân[16], hoặc để thực hiện quyền đuổi Chính phủ đi?Nguyên nhân có phải là do quan niệm không đúng về nguyên tắc chủ quyền nhân dân hay do kỹ thuât lập hiến? Điều này sẽ bàn thêm ở điểm 4 bài này.Sự vừa dè dặt, ngập ngừng dẫn đến không nhất quán còn thể hiện ngay ở các văn bản chính thức và sự kiện thực tế, đơn cử như:- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII (23/01/1995) đã ghi: Cần sớm ban hành Luật Trưng cầu ý dân.- Những nội dung này cũng được khẳng định trong Chương trình Tổng thể cải cách hành chính năm 2001 – 2010 của Chính phủ.- Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng IX (2001) tại Mục IX một lần nữa lại đề ra việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân và chủ trương khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Lần này, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân được ghi vào Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc chứ không chỉ ở Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương. Như vậy là tiến thêm một bước trong việc khẳng định chủ trương này.- Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng XI (2011) tại Mục X “Phát huy dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” ở điểm 1 viết: Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (tác giả nhấn mạnh). Như vậy, Báo cáo chính trị lần này cũng nhấn mạnh dân chủ trực tiếp, nhưng chung chung và không nhắc tới chủ trương ban hành Luật Trưng cầu ý dân, chỉ nói tới chế định không quan trọng bằng là Quy chế dân chủ ở cơ sở (mặc dầu trong Báo cáo có tới 46 từ “dân chủ”, 7 từ “nhà nước pháp quyền”). Nội dung này không có gì cụ thể và không tiến xa hơn Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII về Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh.Trên thực tế, đã có 2 đợt cho tiến hành soạn thảo về Luật trưng cầu ý dân và tổ chức các hội thảo về các dự thảo này: Từ những năm sau 1995 (sau Hội nghị Trung ương 8 khoá VII) và những năm sau Đại hội Đảng IX (2001) đến đầu Đại hội Đảng X (2006), nhưng sau khi khởi động, công việc đã dừng lại. Như vậy, có chủ trương, nhưng ngập ngừng ngay trong chủ trương, việc thực hiện cũng ngập ngừng và dừng lại. Nhận thức và việc làm là hai việc không phải khi nào cũng thống nhất. Đó là “chuyện thường ngày ở huyện”. Thậm chí Báo cáo chính trị trên Đại hội Đảng XI (điểm 4 mục I.B) cũng nhận định: “giữa chủ trương và tổ chức thực hiện còn cách biệt”. Những nhận định như vậy không chỉ thấy một lần, nhưng vẫn để xảy ra ở những chủ trương đặc biệt quan trọng.Dân chủ, cũng là chủ quyền nhân dân, là mục tiêu, đồng thời là động lực, là phương tiện để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”, là nội dung xuyên suốt công cuộc Đổi mới và xây dựng xã hội mới. Không phát triển đầy đủ các hình thức dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp trên toàn quốc và ở các địa phương thì chưa thể có phát triển dân chủ thực sự, sự phát triển của đất nước chưa được bảo đảm, chưa nói là chưa đúng những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền nói chung và nói riêng của nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Nhà nước ta đã được tuyên bố rõ ràng tại Điều 2 Hiến pháp 1992 và những tuyên bố trong các Nghị quyết Đại hội Đảng và nhất là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;… Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.    Ngoài quyền bầu cử phải thật sự tự do, dân chủ được bảo đảm bằng thủ tục luật định chặt chẽ, thì câu hỏi: nhân dân thông qua Hiến pháp hay Quốc hội, nhân dân có quyền phúc quyết (referendum- biểu quyết toàn dân) về Hiến pháp và các vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia, và hai loại quyền này có được ghi dưới công thức cụ thể, rõ ràng, khoa học trong Hiến pháp hay không và có được chỉ rõ trong Hiến pháp và phải được luật quy định cụ thể hay không, đây chính là những nội dung xác định như thế nào về nguyên tắc chủ quyền nhân dân – một nguyên tắc trụ cột của Nhà nước pháp quyền mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã dày công và đang chủ trương xây dựng. Từ tất cả những trình bày trên, chỉ có một câu trả lời đúng, là khẳng định.

4. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng tập trung vào đâu?

Vấn đề này có vẻ như mang tính “kỹ thuật”, nhưng thực ra không phải như vậy, mà là vấn đề cực kỳ quan trọng, mang tính nguyên tắc, nhưng đáng tiếc rằng, cho đến nay trong khoa học chính trị – pháp lý và thực tiễn nước ta vẫn có ý kiến khác nhau, tuy rằng, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là không phải bàn.Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhưng (được thực hiện) tập trung vào Quốc hội và đây là quan niệm phổ biến đang được thể hiện qua các Hiến pháp 1959 (Điều 4), 1980 và 1992 (Điều 6) và đều chỉ quy định nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND, mà đỉnh cao của quan niệm này là Hiến pháp 1980. Đây chính là nguyên tắc tập quyền XHCN. Theo quan niệm này, có người lập luận rằng, trong thời đại ngày nay, khi cuộc sống chính trị – xã hội sôi động, thêm vào đó đất nước lại rộng lớn, nhân dân không thể sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp (bằng referendum) như thời dân chủ thành bang A-ten, dân trí lại thấp, mỗi người dân không thể thông hiểu việc Nhà nước bằng các đại biểu (lập luận giống Montesquieu về dân chủ đại diện), nên cho rằng, nhân dân phải sử dụng quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại diện.Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền lực nhà nước tập trung vào nhân dân. Cái khó của quan niệm này là ở chỗ tập trung vào nhân dân thì cụ thể là vào ai? Không lẽ việc gì cũng toàn dân biểu quyết như chế độ dân chủ sơ khai A-ten, chưa kể còn có ý kiến cho rằng, do dân trí thấp nên chưa thể thiết lập chế định trưng cầu dân ý. Nói về chuyện “dân trí thấp” thì không gì hay bằng lời giải thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946: Trong Ban soạn thảo Hiến pháp, nhiều người đã ngập ngừng: đại đa số công dân còn mù chữ thì bầu thế nào? Hồ Chủ tịch đánh thông, đại ý: không lo; dân ta thiết tha với độc lập, tự do, lại giàu thông minh để phân biệt được kẻ hay, người dở, mới lại: “nó lú thì chú nó khôn” chứ! Còn việc bầu được đúng ai mình định chọn, thì chẳng cần đến chữ nghĩa. Có khối cách bỏ phiếu …[17]Do vậy có quan điểm thứ ba cho rằng, quyền lực nhà nước tập trung vào Hiến pháp. Đây có vẻ như là giải pháp dung hòa, “trung dung” cho hai quan điểm trên. Thực ra, quan điểm này chính là một cách thể hiện của quan điểm thứ hai, nếu quan niệm nội dung cốt lõi của Hiến pháp là chủ quyền nhân dân: Hiến pháp là do nhân dân ban hành, do đó tập trung vào Hiến pháp chính là tập trung vào nhân dân. Như vậy, quan điểm thứ hai – quyền lực nhà nước tập trung vào nhân dân là hoàn toàn chính xác, theo đó nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Các hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng nhất là: - Ban hành Hiến pháp để quy định và giới hạn phạm vi quyền hạn của các cơ quan nhà nước, quy định các hình thức thực hiện quyền lực chủ yếu của các cơ quan nhà nước và của chính nhân dân và cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực của các cơ quan nhà nước.- Biểu quyết toàn dân – phúc quyết (referendum) về những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia hoặc địa phương.Hình thức dân chủ gián tiếp quan trọng nhất là:Bầu ra các cơ quan (chứ không chỉ bầu ra các cơ quan dân cử) thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.Đây là quan niệm, theo chúng tôi, là duy nhất đúng.Điều sửa đổi, bổ sung thứ 10 (năm 1789, có hiệu lực năm 1791) của Hiến pháp Mỹ năm 1787 là hình mẫu của nguyên tắc phân quyền theo lãnh thổ, đồng thời còn có thể xem, theo chúng tôi, là một cách biểu hiện hình mẫu của quan niệm về chủ quyền nhân dân: “Những thẩm quyền không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không cấm các bang thực hiện thì thuộc về các bang tương ứng hoặc thuộc về nhân dân”[18]. Như vậy nhân dân mới đúng là nguồn gốc của quyền lực. Quan niệm/nguyên tắc trên đây không phụ thuộc vào mô hình nhà nước, chế độ chính trị hay chính thể. Do đó, trong Hiến pháp của Nhà nước XHCN thì càng phải thể hiện tốt nhất có thể được nguyên tắc này.

5. Một số kiến nghị sửa đổi các quy định chủ yếu về nguyên tắc chủ quyền nhân dân

Trên cơ sở phân tích trên, chúng tôi có mấy kiến nghị chủ yếu sau về hoàn thiện các quy định chủ yếu về nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp:  Đầu tiên, đã đến lúc phải ghi nhận vào Hiến pháp (chí ít là vào Lời nói đầu) quyền ban hành Hiến pháp là quyền thiêng liêng, là quyền chủ quyền, gốc của mọi quyền, phải và chỉ thuộc về toàn dân Việt Nam, ngay cả khi nhân dân không trực tiếp ban hành hay phúc quyết (referendum) – biểu quyết toàn dân. Mặt khác, trên thế giới có thể không phải ở đâu, lúc nào Hiến pháp cũng do dân phúc quyết, nhưng càng ở những thập niên gần đây và sang thế kỷ 21, tỷ lệ Hiến pháp ban hành bằng referendum cao hơn nhiều so với trước, nhất là trong những nhà nước tiên tiến[19]. Điều đó chứng tỏ tinh thần nguyên tắc chủ quyền nhân dân ngày càng được khẳng định trong các Hiến pháp trên thế giới. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta quy định quyền phúc quyết – biểu quyết toàn dân về Hiến pháp sau khi Quốc hội đã thông qua (ở Điều cuối cùng về ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp). Bỏ những ý tứ nói trong Hiến pháp về quyền của Quốc hội làm và ban hành Hiến pháp.Hai là, quy định quyền chủ quyền của Nhà nước thuộc về toàn dân tộc – toàn dân Việt Nam và được thực hiện qua biểu quyết toàn dân (bổ sung, sửa đổi Điều 2). Sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp (biểu quyết toàn dân) là rất quan trọng, vì đó là biểu hiện cao nhất của quyền chủ quyền, cũng như lời của Rousseau: bởi chủ quyền tối cao của toàn dân là không thể dùng người đại diện được[20], cũng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về hai từ “dân chủ” tức là dân chủ trực tiếp. Như vậy, lời tuyên bố tất cả quyền lực nhà nước thuộc nhân dân mới được đảm bảo chắc chắn bằng hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng nhất.  Ba là, quy định nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp thông qua quyền biểu quyết toàn dân về những vấn đề hệ trọng đến vận mệnh quốc gia hoặc gián tiếp thông qua đại biểu ở các cơ quan đại diện hoặc các cơ quan khác do mình bầu ra (bổ sung, sửa đổi Điều 6).Bốn là, quyền biểu quyết toàn dân nên quy định rõ ràng, đầy đủ và chắc chắn ít nhất như Hiến pháp 1946: 1) đó là quyền chính trị cơ bản – sửa đổi Điều 53; 2) loại vấn đề nhân dân phải phúc quyết, trình tự đưa vấn đề ra phúc quyết và ban hành Luật về Trưng cầu ý dân  (hiểu theo nghĩa là referendum) – bổ sung 1 Điều vào chương về Quốc hội; và 3) bổ sung quyền phúc quyết việc sửa đổi Hiến pháp (Điều cuối của Hiến pháp).Năm là, quan niệm dân chủ gián tiếp không bao hàm chỉ việc nhân dân bầu ra Quốc hội, HĐND, mà cả dân bầu ra các chức vụ khác, như: bầu Chủ tịch nước (dần dần cần tiến tới) và người đứng đầu các cơ quan hành chính địa phương (có thể tiến hành sớm hơn). Ở các tiểu bang ở Mỹ, thậm chí người dân còn bầu cả một số quan chức phụ trách những lĩnh vực quan trọng khác[21]. Việc nhân dân bầu Chủ tịch nước và người đứng đầu các cơ quan hành chính địa phương còn là cách tốt nhất nâng cao tính trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân, vì những nhân vật này nhận sự trao quyền trực tiếp của dân, nên đây là một hình thức giám sát trực tiếp quan trọng nhất của dân đối với những người đứng đầu các cơ quan chính quyền. Đó là cách làm tốt nhất hạn chế sự hoành hành của “lợi ích nhóm”, tệ bè phái, “trên bảo, dưới không nghe”, nạn “quan tham”, trách nhiệm của bộ máy hành chính không rõ ràng, v.v.. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khóa X (điểm 5) đã đề ra chủ trương thực hiện thí điểm việc cử tri bầu trực tiếp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, nhưng đến Quốc hội đã dừng lại, chưa quyết định thí điểm. Thiết nghĩ, Quốc hội đã quá dè dặt. Ngược lại, đây là việc cần làm sớm, mà không chỉ ở cấp chính quyền cơ sở, bởi đây là cách tốt nhất nâng cao tính trách nhiệm, hạn chế tiêu cực và  hiệu quả của chính quyền mọi cấp.Trong điều kiện hiện nay, với những nguy cơ mà Hội nghị Trung ương 4 Khoá XI của Đảng đã nêu, thì cách làm tốt nhất và duy nhất để hạn chế và ngăn chặn triệt để các tiêu cực, yếu kém, bảo vệ chủ quyền của nhân dân, là thiết lập một thiết chế nguyên thủ quốc gia đủ mạnh tương tự như Hiến pháp 1946 hoặc như trong chính thể lưỡng tính bằng cách hợp nhất chức danh Tổng Bí thư với chức vụ Chủ tịch nước. Không phải vô cớ mà các nhà nước tách ra từ Liên Xô cũ và các nhà nước XHCN Đông Âu cũ đều chọn mô hình chính thể lưỡng tính, bởi vì những chuyển đổi mạnh của chế độ kinh tế, chính trị – xã hội luôn song hành cùng những bất ổn, chỉ có một thiết chế nguyên thủ quốc gia đủ mạnh thì mới có khả năng gìn giữ ổn định. Chưa nói rằng thực tiễn các nước làm nên sự “Thần kỳ châu Á” thường gắn với tên tuổi những “Thủ lĩnh”[22]. Cũng có ý kiến rằng, cách này dễ dẫn tới chế độ độc quyền cá nhân. Nhưng có thể hạn chế khả năng xấu này bằng rất nhiều thiết chế, như: Bộ Chính trị, Quốc hội, Tòa án Hiến pháp, nếu là do dân bầu thì bản thân việc dân bầu là cơ chế kiểm soát quan trọng nhất,… Mặt khác, sự tăng quyền cho thủ trưởng bao giờ cũng đi liền với cơ chế trách nhiệm, bên cạnh đó, điều quan trọng là trách nhiệm cá nhân được quy định rất rõ ràng. Đó là chưa nói rằng đây là phương án duy nhất nhằm “hợp hiến hóa” sự lãnh đạo của Đảng (vấn đề này cần bàn cụ thể hơn trong những bài khác).Sáu là, hoàn thiện các hình thức dân chủ gián tiếp khác, quan trọng nhất và trước hết là hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhằm mục đích nâng cao vai trò của nó và hoàn thiện chế độ bầu cử.Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử như Quốc hội để Quốc hội thực hiện một cách thực chất và có chất lượng các chức năng của cơ quan đại diện cao nhất của quốc dân. Muốn vậy, cơ cấu Quốc hội phải giảm thiểu đại biểu kiêm chức năng hành pháp để Quốc hội không còn là “Quốc hội của Hành pháp”. Muốn vậy, Quốc hội phải hoạt động chuyên nghiệp (chuyên nghiệp chứ không chỉ chuyên trách vì chuyên nghiệp gắn với kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ) và thường xuyên, không thể khác. Ngay Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cũng hoạt động thường xuyên (!).Điều quan trọng khác về hoàn thiện tổ chức Quốc hội là nên thành lập Quốc hội hai Viện như nhiều tác giả đã đề xuất. Đây là cách tốt nhất để có một Quốc hội mang tính đại diện cao và để mỗi quyết định quan trọng, trong đó có việc ra luật, đều được cân nhắc kỹ lưỡng qua cơ chế chế ước lẫn nhau giữa hai Viện. Điều này cũng đã được Montesqiueu lập luận rất thuyết phục và đã được được thực tiễn lịch sử khẳng định[23]. Các nước XHCN trước đây đã từng có Quốc hội hai viện hoặc hơn. Quốc hội hai viện không chỉ thích hợp với nhà nước liên bang. Trong nhà nước đơn nhất XHCN vẫn có thể có Quốc hội hai viện.Viện Dân biểu bao gồm đa phần các đại biểu đại diện cho dân được bầu bình thường theo tỷ lệ số dân, nhưng mỗi đơn vị bầu cử chỉ nên chọn một đại biểu (Montesqiueu cũng lập luận thuyết phục về vấn đề này[24]) và cần bỏ hẳn cách trung ương giới thiệu cán bộ về địa phương ứng cử, vì như vậy, đại biểu sẽ không đúng là đại diện cho cử tri địa phương. Bên cạnh đó, cần có một tỷ lệ nhất định các đại biểu do Trung ương Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội hiệp thương giới thiệu để khỏi lo câu hỏi cán bộ trung ương sẽ đi đâu?[25] Như vậy, Viện này sẽ đại diện tốt cho dân cư và các lực lượng chính trị trong xã hội.Thượng Viện (hay với một tên khác) cần bao gồm, ví dụ: một số Ủy viên Bộ Chính trị, các nguyên Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Chủ tịch Quốc hội và nguyên Thủ tướng Chính phủ, và như có tác giả đã đề xuất – không thể thiếu đại diện của các đơn vị hành chính – lãnh thổ (các cộng đồng lãnh thổ) trực thuộc trung ương[26]. Thực tế trước đây, ở nước ta và Trung Quốc đã có Hội đồng cố vấn gồm những vị nguyên là lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, nhưng sau này đã bỏ, có lẽ vì không được hiến định. Nhưng trên thực tế, đây vẫn là một kênh tư vấn quan trọng cho Đảng và Nhà nước. Thiết chế Thượng viện như thế này là một cách “hợp hiến hóa” kênh này. Còn đại diện các cơ quan công quyền của đơn vị hành chính – lãnh thổ (các cộng đồng lãnh thổ) trực thuộc trung ương là rất cần trong Thượng Viện vì sẽ bảo đảm cho Thượng Viện cân nhắc được quyền lợi của tất cả các địa phương khi ra quyết định và nên là hai người (một là Chủ tịch HĐND, một là người đứng đầu cơ quan hành chính). Cơ cấu Thượng viện như vậy sẽ bảo đảm sự lãnh đạo chính đáng của Đảng, của các cựu lãnh đạo của Nhà nước, cân nhắc tốt hơn ý chí, quyền lợi của các địa phương, bảo đảm tốt hơn chức năng ngăn cản và sự chế ước lẫn nhau giữa hai Viện để Quốc hội ra quyết định có chất lượng.   Về chế độ bầu cử, điều quan trọng là phải thực sự tự do, dân chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói và thực hiện năm 1946. Ở đây, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến bổ sung nguyên tắc bầu cử tự do như Điều 17 Hiến pháp 1946 vào Hiến pháp 1992[27]. Một tuyên bố về quyền tự do bầu cử và ứng cử mà không có cơ chế (nguyên tắc, thủ tục) khoa học đảm bảo thì tuyên bố sẽ chỉ là hình thức. Một việc khác, ví dụ, nhập bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND vào một ngày… tuy đơn giản và tiện lợi, nhưng chỉ dưới giác độ nhà quản lý, còn dưới giác độ phát triển chế độ bầu cử dân chủ, tự do thì không hay. Ý nghĩa cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND khác nhau, vì đây là hai cơ quan đại diện ở hai tầm khác nhau. Luật về cách bầu cử là một luật cơ bản trong nền dân chủ[28], vì vậy, nếu luật này còn hình thức thì chưa thể nói có chủ quyền nhân dân thật sự.  Như vậy, không chỉ cần đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội nói chung mà cần đổi mới ngay từ khâu bầu cử để sao cho, các đại biểu Quốc hội thực sự do dân bầu ra một cách tự do. Như vậy lãnh đạo của Đảng mới thật đúng tầm. Có như vậy, những luật do Quốc hội ban hành chắc chắn sẽ bớt “luật khung, luật ống”, có chất lượng hơn, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia sẽ làm tốt hơn, chức năng giám sát sẽ có hiệu lực hơn.    
 Nguồn: http://hienphap.net/
                    

Thứ Tư, ngày 27 tháng 2 năm 2013

NHÀ NƯỚC HÃY ĐỂ CHO CHÚNG TÔI CÓ QUYỀN BÌNH THƯỜNG NHẤT TRÊN ĐỜI LÀ NÓI THẬT.


27/2/2013

Hôm qua, báo Gia Đình & Xã hội kỷ luật buộc thôi việc nhà báo Nguyễn Đắc Kiên. Lý do Nguyễn Đức Kiên bị buộc thôi việc là do anh có bài viết trên trang blog phản đối những ý kiến của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về những người góp ý sửa hiến pháp năm 1992, yêu cầu xóa bỏ điều 4 hiến pháp, thiết lập thể chế tam quyền phân lập...
Với tư cách là bạn (Friend FB) chúng tôi đến thăm Kiên.

                       

Cửa xếp của căn nhà trong ngõ nhỏ ven đê sông Hồng của Kiên khóa ngoài bằng một chiếc khóa đồng chứng tỏ chủ nhà đi vắng. Những người hàng xóm từ trong nhà nghe tiếng xe máy (lạ) nhanh chóng ra cửa ngó sang lấp ló.
Quen với cảnh khi đến thăm nhà những người bạn đã từng “ được chính quyền quan tâm”, chúng tôi cảm nhận được sự không bình thường ở đây. Đây đó là các đôi mắt ẩn sau vành mũ đi loanh quanh trước ngõ, quán nước. Ở kia, hai anh “xe ôm” ngồi “hóng gió” nhưng không cần bắt khách. 
Ra ngoài phố nhắn tin vì “phôn” không thấy Kiên nhấc máy và mấy phút sau Kiên chạy ra đón chúng tôi vào nhà.
Sau cái quyết định buộc thôi việc của báo Gia đình & Xã hội, Kiên tỏ ra bình tĩnh. Rõ ràng anh đã đón nhận chuyện này như một lẽ “tự nhiên”, điều mà những người dám nói thật sẵn sàng đón nhận ở một đất nước “dân chủ vạn lần” của chúng ta. 
Khi chúng tôi hỏi “Kiên có thấy việc làm của Tổng Biên tập báo Gia đình & Xã hội là sai trái không?” Kiên trả lời: “Không anh ạ. Em thấy họ không sai đâu. Họ có thể làm gì được khác thế?”. 
Kiên không bực bội về việc bị buộc thôi việc mà chỉ bất bình  “Sau khi nghe bài phát biểu của ông Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng. Với tư cách là công dân của nước Việt Nam, em rất bất bình trước sự quy chụp “suy thoái lý tưởng, đạo đức” của ông ấy. 
Trong Blog của Kiên, Kiên viết: “Tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới.”  
Trên trang cá nhân Facebook, Kiên tâm tình: “Gửi tất cả các bạn. Đầu tiên cho tôi xin lỗi vì đã không thể trả lời mọi comment và tin nhắn của các bạn. Tôi cố gắng để add tất cả mọi người, hy vọng là có đủ thời gian. Dù có chuyện gì xảy ra, tôi chỉ mong các bạn hiểu cho một điều, tôi không muốn là anh hùng, không muốn là thần tượng. Nước ta đã có nhiều anh hùng, nhiều thánh thần quá rồi. Tôi sợ. Tôi chỉ nghĩ rằng, khi đất nước ta có tự do, dân chủ, các bạn sẽ thấy rằng, các bài viết của tôi là rất bình thường, nó thật sự bình thường, không có gì to tát cả. Tôi cũng xin các bạn đừng nặng lời phê phán Báo Gia đình & Xã hội nơi tôi đã làm việc, tôi hiểu và tôn trọng quyết định của lãnh đạo báo. Nếu ở cương vị của họ, có thể tôi cũng phải làm thế. Tôi hiểu là mọi thứ còn chưa bắt đầu. Cầu chúc an lành cho tất cả chúng ta.”

Trước đây, khi chứng kiến những người biểu tình chống Trung quốc gây hấn, xâm phạm biển đảo Việt nam, Kiên đã từng viết những vần thơ bày tỏ tâm sự trong bài: Bởi Vì Tôi Khao Khát Tự Do  đề Tặng những người biểu tình ngày 09/12/2012:

Nếu một ngày tôi phải vào tù,
tôi muốn được vào nhà tù Cộng sản,
ở nơi đó tôi gặp những người ngay,
ở nơi đó đồng loại tôi đang sống.
nếu một ngày tôi phải vào tù,
tôi muốn được vào nhà tù Cộng sản,
ở nơi đó giam giữ Tự do,
giam giữ những trái tim khao khát Sống.
nếu một ngày tôi phải vào tù,
tôi muốn được vào nhà tù Cộng sản,
ở nơi đó giam giữ những nhà thơ,
giam giữ kẻ ngủ hoang để thức tỉnh muôn đồng bào vô thức
bắt nhà thơ giam vào trong ngục tối,
là mở ra ngàn thiên thể Tự do.
bắt Tự do giam vào trong ngục tối,
là mở ra ngàn thơ tứ Con người.
nếu một ngày tôi phải vào tù,
thì chắc chắn là nhà tù Cộng sản,
bởi vì tôi khao khát Tự do.

Chuyên trò với Kiên, chúng tôi thấy Kiên không lên gân chút nào khi nói về tự do dân chủ cho đất nước. Anh mong muốn nhà nước và nhân dân nên đối thoại thay vì đối đầu như hiện nay. Đất nước chúng ta chỉ có thể bước về phía trước như Myanma đã đi để có được hạnh phúc, tự do dân chủ. Chỉ có con đường ấy, chúng ta mới ít tốn xương máu nhất. 
Anh hy vọng nhà nước biết lắng nghe tiếng nói của nhân dân, mong muốn nhân dân cũng cần có sự bao dung đối với những người đang cầm quyền. Chúng ta phải tha thứ cho nhau mới có thể bắt tay xây dựng lại nền dân chủ đích thực cho đất nước này. Khi không còn biết tha thứ, cả hai phía đều tự mình đặt mình vào vị trí của những kẻ bóp cò. Khi đó cả hai phía đều không có ai là người chiến thắng. Cả hai phía đều là những người sắp chết và sẽ chết.
Chúng tôi cảm thấy anh đã nói đúng tâm nguyện của nhiều người dân kể cả một số “nguyên lãnh đạo” kể cả nhiều cán bộ đang “cầm sổ hưu” và thậm chí nhiều người chỉ có bàn tay trắng và nỗi ẩn ức vì bị tước đoạt tự do vì dám nói thật.
Chúng ta khao khát được nói thật và đã quá chán những lời dối trá bao nhiêu năm qua.
Nhà nước hãy để “cho” chúng tôi cái quyền bình thường nhất trên đời là NÓI THẬT.

Mai Xuân Dũng

Thứ Tư, ngày 20 tháng 2 năm 2013

PGS, TS NGUYỄN VIẾT THÔNG – TỔNG THƯ KÝ HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG CHƯA HỀ ĐỌC MARX



Trần Mạnh Hảo

 “ Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”
(K.Marx- F.Engels)
Trên báo “ Nhân Dân online” ngày 20/ 02/2013 có in bài của ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung ương có tên :
Tính hợp lý của Ðiều 4 trong Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi)”
Cập nhật lúc 01:27, Thứ tư, 20/02/2013 (GMT+7)


Chúng tôi ( Trần Mạnh Hảo) xin phép được trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương trên tinh thần của khoa học lý luận, để đảm bảo tính logic của vấn đề ông đặt ra; tuyệt nhiên không muốn và không dám “tranh luận” với hệ thống còng số tám đang lăm le tinh thần học phiệt trong món khoa học mang tính tùy tiện của một kẻ quy chụp, đầy chất công an trong câu văn đầu tiên của nhà lý luận số một của đảng cộng sản Việt Nam là ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông như sau :

Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn kích động đòi chúng ta bỏ Ðiều 4 trong Hiến pháp, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”

Khi Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam ( hai khái niệm này là một) đang kêu gọi nhân dân góp ý cho việc sửa đổi bản hiếp pháp 1992 với chủ trương không hề có sự cấp đoán hay trù dập đe dọa nào, nghĩa là tự do gấp triệu lần món tự do của tư bản; vậy mà ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông lại đe dọa, quy chụp những ý kiến trái chiều vào cái rọ của điều 88 ( hai còng số tám) là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH thì hóa ra, chính ngài Tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương đang chống lại chủ trương dân chủ hóa xã hội của đảng cộng sản Việt Nam hay sao ?

Xin ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông đọc một đoạn văn ngắn này để xem CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH là những “ tên “ nào :

 “Đại diện những người ký tên “Bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992″ trao Kiến nghị cho Ủy ban sửa đổi Hiến pháp
Hồi 10h sáng thứ Hai 4-2-2013, một phái đoàn gồm 15 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban.
Thành phần Đoàn đại diện gồm: Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất); Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn); Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM; Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An; Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội; Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế.
Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin.
Tiếp Đoàn có ông Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và một số cán bộ trong Văn phòng Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.”
Chẳng lẽ các nhân sĩ trí thức lớn vào hàng bậc nhất Việt Nam được kể tên trên đây ( hầu hết họ đều là đảng viên lâu năm của đảng cộng sản Việt Nam hoặc là những cán bộ cao cấp, hoặc từng là Ủy viện trung ương đảng) đều là “bọn” như ông Nguyễn Viết Thông gọi tên là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắt hay sao ? Đấy là chưa kể những nhân vật nổi tiếng hàng đầu Việt Nam như nhà toán học bác học Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, GS. Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Hạnh, GS TS, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Ban Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, TP HCM, hoặc các vị tướng tá của Quân Đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Thị Ngọc Toản, giáo sư bác sĩ, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, Hà Nội…cùng với 4.559 người ( tính đến 20-02-2013) ký tên vào bản sửa đổi hiếp pháp yêu cầu bỏ điều 04 bất hợp lý của hiến pháp 1992… Chẳng lẽ mấy nghìn người này đều là “ bọn” người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH như PGS.TS.Nguyễn Viết Thông quy chụp và chỉ điểm hay sao ?
Theo logic còng số tám ( điều 88) của ông Tổng thư ký hội đồng lý luận Trung ương kể trên thì việc ông Lê Minh Thông, Phó chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc Hội , phó ban biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung hiếp pháp 1992 cũng là người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH vì ông này dám tiếp “bọn” yêu cầu bỏ điều 04 trong hiếp pháp, tức “bọn” CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ở chính văn phòng quốc hội ư ?
Trong bài viết của chúng tôi ( TMH) in trên internet : “Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời”, có đoạn như sau :
“Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:
1-     Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mac-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx vì nó cấm đối lập chính trị ?”
Khi có dịp tiếp xúc các ông bí thư thành ủy Sài Gòn trước kia, tôi đều hỏi câu trên, nhưng các ông nói để các ông hỏi lại trung ương, nhưng rồi vẫn chìm vào im lặng. Nay chúng tôi xin hỏi PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương xem cái sự vật có tên là NỀN CHÍNH TRỊ CẤM ĐỐI LẬP CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM có nằm trong nguyên lý căn bản của phép biện chứng Mác-xít : “ Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất” hay không ?
Cái thói cho mọi ý kiến trái chiều, trái với mình ( tức là ý kiến đối lập) đều phải bị triệt tiêu, tiêu diệt, rằng đó là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH phải nằm trong tầm ngắm của điều luật 88 ( hai còng số 8) mang tội danh “ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” không chỉ của PGS.TS. Nguyễn Viết Thông mà chính là quan điểm chính thống của đảng cộng sản Việt Nam đều là những ngụy tín những quy định, những chụp mũ HOÀN TOÀN CHỐNG LẠI PHÉP BIỆN CHỨNG MÁC-XÍT. Marx xuất hiện bao giờ cũng trên tinh thần PHÊ PHÁN của một nhà khoa học. Cấm mọi người phê phán mình, Đảng Cộng sản Việt Nam coi như đã cấm đoán và bỏ tù tinh thần phê phán Mác –xít.
Thật nực cười. một vị tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương như PGS.TS. Nguyễn Viết Thông lại chưa hề đọc và học về phép biện chứng Mác Xít, chưa hề được học môn logic học ( luận lý học) nên các quan điểm trong bài bài viết này của ông đều giả dối và duy tâm tuyệt đối. Linh hồn của phép biện chứng Mác-xít ( lấy từ biện chứng pháp Hegel) là nhịp hai : ĐỐI LẬP ( nhịp một : Xuất đề- nhịp hai : PHẢN ĐỀ ( tức đối lập), nhịp ba : tổng hợp đề…từ đây lại sinh ra một xuất đề khác…cứ thế căn đuôi cá nhau đi mãi …)
Nhân danh chủ nghĩa Marx để phản Marx –Engels chính là những quan điểm phi khoa học ( gọi là quan điểm phản động) trong hầu như toàn bộ bài viết kể trên của PGS.TS.Nguyễn Viết Thông trên tờ “ Nhân Dân online” ngày 20-02-2013 vậy.
Vì ông tổng thư ký hội đồng lý luận trung ương của một đảng cộng sản tự xưng là theo chủ nghĩa Marx nhưng chưa hề đọc Marx, chúng tôi đành phải nói qua với ông Thông (PGS.TS. Nguyễn Viết Thông) về tinh thần tự do trong tranh biện của Marx.
 Marx có nhiều sai lầm quan trọng như thái độ tuyệt đối hóa trước các sự vật trong một thế giới tương đối; ví như ông nhận thức giai cấp tư bản là tuyệt đối xấu và giai cấp vô sản tuyệt đối tốt, rằng thuyết THẶNG DƯ của ông là sai về kinh tế học, định nghĩa lịch sử loài người là lịch sử của cái ác ( …là lịch sử đấu tranh giai cấp) là sai; ví như học thuyết xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất, tuyệt đối hóa công hữu là tốt và tư hữu là xấu là những cái sai căn bản của Marx; ví như mô hình của thế giới cộng sản đại đồng Marx vẽ ra là hoàn toàn duy tâm, hoang tưởng….
Nhưng tinh thần khoa học trong tư duy lý luận của Marx chống lại độc tài, độc đoán trong tranh biện, chống lại bọn học phiệt, chống lại những kẻ muốn bóp chết nền tự do báo chí của Marx cần phải được học tập. Marx qua các bài báo đấu tranh cho tự do dân chủ, luôn luôn lấy tiêu chí của Voltaire làm trọng : “ Tôi có thể không đồng ý với quan niệm của anh nhưng tôi sẽ chiến đấu cho tới chết để anh được quyền nói lên chính kiến của mình”…
Xóa bỏ, bắt bớ những người có ý kiến trái chiều như đảng cộng sản Việt Nam đang làm khác gì các ông đang kết án Marx ?
Marx từng khẳng định không có tự do báo chí tư sản thì không có chủ nghĩa Marx. Vậy mà nhà nước của đảng cộng sản Việt Nam tự xưng là đầy tớ của nhân dân lại sở hữu 700 tời báo, trong khi nhân dân là ông chủ thì tuyệt nhiên bị cấm ra báo, cấm lập hội lập đảng; thế mà ông Thông và các ông dám bảo dân ta tự do lắm, hạnh phúc lắm, được sống trong một xã hội “DÂN CHỦ CÔNG BẰNG VĂN MINH” lắm lắm thì sự nói ngược của các ông cần phải được ghi vào kỷ lục guiness thế giới…
Thưa ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông, khi ông đẩy những người có ý kiến đối lập vào với cái gọi là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH tức “bọn” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA…như bài viết trên của mình, thì ông và các ông cầm quyền hiện nay đang chống Marx và đang truy nã tinh thần tự do dân chủ mà Marx quảng bá trên 200 năm trước đấy. Hẹn có dịp, chúng tôi sẽ lại được trao đổi với NHÀ KHOA HỌC phi logic và phi Mác-xít Nguyễn Viết Thông .,.
Sài Gòn ngày 20-02-2013

Trần Mạnh Hảo

Thứ Hai, ngày 18 tháng 2 năm 2013

MƯỜI BẢY NĂM TRƯỚC, PGS.TS. NHÀ VĂN NGUYỄN THANH TÚ ĐÃ ĂN CẮP LUẬN VĂN TIẾN SĨ



Trần Mạnh Hảo

Lời dẫn của tác giả : Trên  blog TỄU của tiến sĩ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện, chúng tôi vừa đọc bài báo rất thiếu tính khoa học, rất hàm hồ, rất ngụy biện của PGS.TS. Nhà văn Nguyễn Thanh Tú, nguyên Phó tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Quận đội có tên :

“Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong Hiến pháp 
là hợp lý, hợp tình” 
QĐND - Chủ Nhật, 17/02/2013, 20:6 (GMT+7)
PGS. TS. Nhà văn Nguyễn Thanh Tú
nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 



Nay chúng tôi ( Trần Mạnh Hảo) xin gửi tới quý báo bài viết dưới đây, đã in trên báo và in trên mạng Internet từ năm 2004 vạch trần trò láu cá của thầy trò GS.TS. Trần Đình Sử và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú, trong một vụ án đạo văn mờ ám tạo thành “luận án tiến sĩ” của Nguyễn Thanh Tú để bạn đọc rộng đường dư luận. Một con người có án ăn cắp luận án tiến sĩ như Nguyễn Thanh Tú lại nhảy ra bênh đảng, bảo hoàng hơn vua, thì người được bênh cũng chẳng vinh dự gì…Bài viết của chúng tôi trả lời ông Nguyễn Thanh Tú có tên : “Khi hai thầy trò là đồng tác giả luận án tiến sĩ ngữ văn” dưới đây :

Khi hai thầy trò là đồng tác giả Luận án Tiến sĩ Ngữ văn

Báo Gia Đình & Xã Hội số 153 (463 ) ra ngày 23/12/2003 có in bài: ”Về tác giả chuyên luận ‘Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan’ của TS. Nguyễn Thanh Tú”, nhằm đáp lại bài “Ai là tác giả thật của ‘Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan?” của chúng tôi (tức Trần Mạnh Hảo) cũng in trên tờ báo đã dẫn số 143 ngày 29/11/2003.

Đoạn cuối cùng bài báo của mình, TS.Nguyễn Thanh Tú viết: ”Bài viết của anh Hảo chứng tỏ anh chẳng những không biết mối quan hệ đặc biệt của người hướng dẫn khoa học và nghiên cứu sinh mà còn tùy tiện xuyên tạc”
. Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi với ông Nguyễn Thanh Tú 2 vấn đề:
1Về mối quan hệ đặc biệt giữa người hướng dẫn khoa học, GS TS. Trần Đình Sử và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú ra sao?
2- Trần Mạnh Hảo hay Nguyễn Thanh Tú, ai là người “tùy tiện xuyên tạc“?

Trước khi vào vấn đề chính, chúng tôi cần tóm tắt vài nét về bài báo “Ai là tác giả thật của thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan?” in trên tờ báo đã dẫn.
Số là, năm 1996, ông Nguyễn Thanh Tú có hoàn thành luận án tiến sĩ nhan đề: ”Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan” dày 179 trang khổ A4. Trên trang đầu tiên của luận án có lời cam đoan và chữ ký của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú, viết như đinh đóng cột như sau: ”LỜI CAM ĐOAN: Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác“.
Thế mà chỉ 5 năm sau, người ta thấy luận án trên của TS. Nguyễn Thanh Tú được xuất bản với một tên khác: “Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan” mang tên 2 đồng tác giả: GSTS.Trần Đình Sử và TS. Nguyễn Thanh Tú (NXB Đại học QG Hà Nội 2001). Trong bài báo đã dẫn, chúng tôi nêu ra nghi vấn: thế thì ai là tác giả thật của luận án tiến sĩ trên, ông Sử hay ông Tú, và nếu một luận án tiến sĩ do hai thầy trò đồng tác giả như thế liệu có hợp pháp chăng?
1- Về mối quan hệ đặc biệt giữa người hướng dẫn khoa học - PGS.TS Trần Đình Sử - và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú.
Như chúng tôi vừa nêu, trên trang đầu luận án tiến sĩ của mình, nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú đã cam đoan, thề rằng: ” ĐÂY LÀ CÔNG TRÌNH CỦA RIÊNG TÔI!”. Thế mà sau 5 năm, khi từ luận án tiến sĩ chuyển thành cuốn sách chung mang tên Trần Đình Sử - Nguyễn Thanh Tú, ông Trần Đình Sử đã khui ra sự thật này, phủ nhận hoàn toàn lời thề của ông Tú khi bảo vệ luận án TS: ”Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan là chuyên luận đã được ấp ủ từ đầu những năm tám mươi khi tôi bắt đầu viết thi pháp thơ Tố Hữu. Những ý tưởng được tích lũy dần cho đến khi gặp Nguyễn Thanh Tú, một người ham học hỏi, làm việc đầy sáng tạo, năng nổ, góp phần quyết định cho việc hoàn thành bản thảo. Đây là công trình chung, kết quả làm việc phối hợp chặt chẽ của tôi và tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú“.

GSTS.Trần Đình Sử khẳng định rằng không chỉ khi cuốn sách: ”Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan“ của hai đồng tác giả trên ra đời, mà ngay cả luận án tiến sĩ: “Từ quan niệm nghệ thuật đến nghệ thuật ngôn từ trong truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan” đã là cuộc kết hợp giữa hai thầy trò Trần Đình Sử - Nguyễn Thanh Tú. Thế thì việc ông Tú cam đoan trên trang đầu của luận án tiến sĩ do ông bảo vệ đầu năm 1997 rằng đây “LÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA RIÊNG TÔI” hoàn toàn là một sự thiếu trung thực. Vì nếu ông Tú viết trên trang đầu của luận án TS trên rằng: ”Tôi xin cam đoan đây là công trình của hai thầy trò chúng tôi là PGSTS. Trần Đình Sử - Nguyễn Thanh Tú” đúng như lời ông Sử sau này khai ra, thì ông Tú đến 100 năm nữa cũng không lấy được học vị tiến sĩ. Trong bài trả lời chúng tôi như đã dẫn, ông Tú cũng phải thừa nhận rằng cái luận án tiến sĩ mà ông nói dối rằng của riêng ông, thực ra là của chung 2 thầy trò như ông Sử đã tuyên bố; ông Tú thừa nhận: ”Xét ở phương diện ý tưởng khoa học và phương pháp nghiên cứu, người hướng dẫn hoàn toàn có thể là đồng tác giả của một luận án khoa học do nghiên cứu sinh thực hiện”. Cũng trong bài trên, ông Tú tiếp tục khai ra sự thật mà thầy mình đã đưa ra ánh sáng trước đó, rằng: ”Ý tưởng khoa học về đề tài luận án của tôi được GS. Trần Đình Sử ấp ủ từ khi ông viết Thi pháp thơ Tố Hữu”. Hóa ra ông Sử đã thai nghén chuyên luận này từ đầu những năm 80, nghĩa là trước khi ông Tú bảo vệ “thành công” cái luận án do hai thầy trò là đồng tác giả ít nhất là 15 năm. Suốt 15 năm ấy “những ý tưởng được tích lũy dần cho đến khi gặp Nguyễn Thanh Tú” như lời ông Sử, mới thành luận án tiến sĩ chung, thành sách chung của hai thầy trò! Nghĩa là trước khi ông Tú bảo vệ luận án TS về nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ông Sử đã bỏ ra 15 năm suy nghĩ, ấp ủ, nghiền ngẫm, thai nghén cái chuyên luận này mà khi đứng trước Hội đồng khoa học, ông Tú đã thề rằng nó là của riêng mình! Đây là điều đáng trách nhất của cả ông Sử và ông Tú! Hóa ra các ông cùng rắp tâm lừa Hội đồng khoa học, lừa Bộ GD&ĐT ư? Phải chăng đây chính là mối quan hệ đặc biệt giữa người hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Đình Sử và nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Tú? Trong bài báo trả lời chúng tôi, ông Nguyễn Thanh Tú đã lờ đi hai điều then chốt nhất của vấn đề là lời thề của ông trước khi bảo vệ luận án TS và lời thú nhận của ông Trần Đình Sử rằng đây là công trình chung của 2 thầy trò khi nó còn trong trứng nước, tức là khi nó chưa thành bản luận án TS mang tên ông Tú!
Như vậy, luận án tiến sĩ của riêng Nguyễn Thanh Tú (thực chất là đồng tác giả của hai thầy trò) kia, liệu có phạm quy, có danh chính ngôn thuận, có đúng luật pháp hay không thì xin thanh tra Bộ GD&ĐT, Hội đồng khoa học khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư Phạm và Bộ GD&ĐT hãy trả lời trước công luận.
2- Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Thanh Tú, ai là người “tùy tiện xuyên tạc”?
Khi cả hai thầy trò Trần Đình Sử và Nguyễn Thanh Tú cùng ra trước công luận thú nhận một sự thật đau lòng rằng : cái luận án ông Tú thề rằng của riêng mình kia thực ra do hai thầy trò là đồng tác giả, thì vấn đề khi đem in nó thành sách, các ông có bổ sung 2% hay 20% hoặc 80% cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Bằng lời nói đầu cuốn sách của ông Sử, bằng bài báo trả lời chúng tôi của ông Tú, chính ông Tú là người đã “ tuỳ tiện xuyên tạc” sự thật của chính các ông bằng một lời thề thiếu trung thực trước Hội đồng khoa học Trường ĐHSP Hà Nội năm đầu năm 1997 đó sao?
Nguyễn Thanh Tú lên án chúng tôi: ”...Anh đã xuyên tạc trắng trợn sự khác nhau giữa luận án và sách. 82.000 chữ trừ đi 65.000 chữ là 17.000 chữ, là trên 20% chứ không hề là 2% như anh Hảo nói để rồi quy kết tôi là “không trung thực” khi làm luận án và suy diễn vu vơ rằng GS. Trần Đình Sử “viết giùm cho học trò” (!). Thưa ông Nguyễn Thanh Tú, chính ông đã xuyên tạc ý GS.Trần Đình Sử trong lời nói đầu nơi cuốn sách đồng tác giả với ông rằng: “Đây là công trình chung...” của 2 thầy trò đó ư? Ý GS Sử nói trong văn mạch, trong văn cảnh đã dẫn rằng: công trình chung của 2 thầy trò này là chung từ thuở còn chưa có hình hài, nghĩa là từ thuở chưa có bản luận án mang tên ông Tú, chứ không chỉ là công trình chung của riêng cuốn sách. Cũng như ông Tú đã thừa nhận trong bài trả lời chúng tôi rằng: (xin lược dẫn điều đã dẫn trên): “Người hướng dẫn hoàn toàn có thể là đồng tác giả của một luận án khoa học do nghiên cứu sinh thực hiện!”.
Vì sao hai ông Tú và Sử lại đem một luận án TS mang tên X ra in rồi biến nó thành thành cuốn sách khác với cái tên gọi khác là Z như thế? Việc làm này là trung thực ư, khoa học ư? Chưa hết, ông Tú còn tung hỏa mù rằng các ông đã gia công thêm 20% từ luận án sang sách, rồi khi thì thề là của riêng tôi, khi thì cùng ra công luận thú nhận là đồng tác giả? Ông Tú ngồi đếm chữ rằng sách dôi ra so với luận án những 17.000 chữ, nghĩa là sách thêm 20% so với luận án! Cứ cho là cuốn sách chỉ mang tới 80% luận án đi nữa thì cũng không thể tùy tiện đổi tên luận án từ X sang tên gọi Z của sách được? Bản chất của cuốn sách vẫn là luận án vì nó chiếm tới 8 phần 10 cơ mà! Số trang ở sách dôi ra so với luận án là do sách chú thích dưới từng trang, còn phần luận án chú thích được dồn vào cuối. Trang 156 của sách, các ông có đưa vào thêm 13, 5 trang gọi là phần “Nguyên tắc ‘lột mặt nạ” và “nguyên tắc dùng cái tục” mà ông Tú khoe khoang một cách khôi hài rằng chỉ 2 tiểu mục này cũng “Tương đương với 2 công trình khoa học” (!).

Cứ theo đà tự phong ngút trời mây này, cuốn sách của thầy trò ông Tú có thể còn cỡ vài ba trăm công trình khoa học nữa cũng không biết chừng! Chúng tôi xin lấy vài ví dụ về sự “lên đời” từ luận án hóa thành sách ra sao? Ví dụ như trang 16 của sách so với luận án là dôi ra hơn nửa trang vì thêm ý kiến của Nguyễn Đức Đàn. Trang 22, 23 sách cũng trích thêm ý kiến của Nguyễn Đức Đàn dôi ra nửa trang (sách in sai là Nguyễn Đức Đà, chú thích cuối trang sai là Nguyễn Đức Đàm!). Trang 29 sách chỉ thêm đề mục (II) tương đương với luận án trang 16. Trang 30 của sách so với trang 17 luận án thêm 2 chữ “Sau này”. Cũng trang 30 đổi chữ “luận án“ trang 17 thành “chuyên luận” trong sách. Trang 31 sách thêm 8 dòng so với trang 18 luận án, cốt để tâng bốc “Thi pháp”. Ví dụ khác như trang 111 luận án dòng cuối cùng viết “ thế kỷ này” thì ở sách trang 133, dòng cuối cùng sửa thành “Thế kỷ XX”. Mặc dù bìa sách và bìa phụ đề tên 2 vị là đồng tác giả, nhưng chỉ ở chương đầu đã ba lần lặp lại dòng chữ “Tôi nhấn mạnh - N.T.T” thay vì chính ra phải chua rằng “Chúng tôi nhấn mạnh: T.Đ.S. và N.T.T.”!
Khi vấn đề chính đã được giải quyết, dù ông Tú có cố chứng minh từ luận án đến sách rằng hai ông đã gia công 20% hoặc 80% cũng không làm ảnh hưởng đến cái sai rất lớn là cả hai thầy trò ông đã lừa Bộ GD&ĐT đầu năm 1997 trong cuộc bảo vệ luận án TS ở Trường ĐHSP Hà Nội, nhằm cốt để lấy tấm bằng TS cho riêng ông Tú; vì ông Sử lúc đó đã là PGS.TS, còn cần gì lấy thêm một nửa bằng Tiến sĩ nữa từ luận án đồng tác giả kia?


Chủ Nhật, ngày 17 tháng 2 năm 2013

NGÀY QUỐC NHỤC?


Ở các nước phát triển hàng đầu trên thế giới như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật…người ta chẳng ngại nói về người Mỹ xấu xí hoặc người Nhật xấu xí còn ở Việt nam, những người cầm quyền rất ngại nói về những thói xấu của người Việt. Họ chỉ thích những câu chuyện giả tưởng kiểu như “người nước ngoài mong ước khi một sáng mai thức dậy thấy mình là người Việt nam” hoặc Việt nam “là một nước nhỏ nhưng đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to”…
Người Việt không chỉ mang tiếng xấu xí mà người Việt ngày nay còn bị chịu một áp lực tinh thần rất lớn nữa đó là sự nhục nhã khi bị người nước ngoài hoặc công khai hoặc ngấm ngầm khinh bỉ.
Năm 2008, khi họp với UBND thành phố Hà Nội, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã phát biều rằng:  
Chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét..
Về những nỗi nhục Việt nam có lẽ nói mãi không hết. Là một đất nước giầu tài nguyên sau gần nửa thế kỷ kết thúc chiến tranh, Việt nam đủ thời gian để tái thiết đất nước nhưng đến nay vẫn bị xếp trong số các quốc gia nghèo mạt nhất thế giới đến nỗi nhiều phụ nữ đã chấp nhận cởi truồng xếp hàng để đàn ông nước ngoài lựa chọn như lựa con vật với hy vọng rời bỏ đất nước mong thoát nghèo.
Người Việt nam vốn thông minh tháo vát, cần cù lao động nhưng dưới chế độ độc tài phi dân chủ, nguồn nhân lực Việt chỉ được khai thác tương đối hiệu quả bằng cách xuất khẩu sức lao động tương tự như một hình thức bán sức kéo của trâu bò trên đồng ruộng.
Từ khi có truyền hình, có Internet, dân Việt nam nhìn nhận được rằng nguyên thủ quốc gia ở các nước phát triển thực sự là những người tài năng, trọng danh dự  và hết lòng cống hiến sức lực, trí tuệ cho đất nước của họ còn ở Việt nam, các nguyên thủ quốc gia hầu hết là những người bất tài nhưng ba hoa khoác lạc có hạng, nói dối như cuội với một vẻ mặt trơ tráo. Hầu hết họ chỉ chăm chăm giữ ghế để được vinh thân phì gia không coi dân ra cái gì và hoàn toàn vô cảm khi chủ quyền đất nước bị Trung quốc xâm phạm. Đó là một nỗi nhục lớn nhưng còn thua xa nỗi nhục lớn nhất đó là nỗi nhục của những người dân bị chính những người cầm quyền Việt nam đàn áp khi họ tôn vinh các chiến sỹ Việt nam đã hy sinh thân mình để bảo vệ tổ quốc trong cuộc chiến tranh chống quân Trung quốc xâm lược từ ngày 17/2 năm 1979.
Nhớ lại năm 2008, sau phát biểu của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt về nỗi nhục Việt nam, ông đã bị giới báo nô, truyền hình, phát thanh mõ làng đồng loạt công kích. Dĩ nhiên mọi người đều hiểu ai là kẻ cay cú hằn học ai là kẻ phát động chiến dịch truyền thông và chi tiền để công kích bôi nhọ vị Tổng Giám mục dám nói thật này. 
Hôm qua, 17/2 khi nhân dân Hà nội, Sài gòn trong đó có các trí thức lớn đến đặt vòng hoa tưởng niệm các liệt sỹ đã anh dũng hy để bảo vệ tổ quốc đã bị các lực lượng chức năng nhà nước ngăn cản thô bạo, cướp băng tưởng niệm trên các vòng hoa.
Nhà nước đã không dám làm lễ tưởng niệm thì ít nhất cũng phải để nhân dân tưởng niệm các anh hùng của họ, các thân nhân của họ đã ngã xuống bảo vệ cho đất nước không bị Trung quốc chiếm đóng. Vậy mà họ đã chỉ đạo cho “các lực lượng chức năng” ngăn cản thô bạo lễ tưởng niệm rất chính đáng này.
Nhìn vẻ mặt và lối hành xử hung tợn, ít học, thô bạo, tục tĩu của những người dân phòng, công an trong cái “lực lượng chức năng” này, những người chứng kiến tại chỗ và hàng triệu người xem lại các Video clip phát lại đều cảm thấy ngỡ ngàng, uất ức sau đó là một nỗi hổ thẹn ê chề, nỗi nhục nhã không thể tả nổi trước những điều trông thấy, nghe được.
Thật ra những người trong cái “lực lượng chức năng” này phải gọi cho đúng là lực lượng sai nha dốt nát nhắm mắt làm theo lệnh cấp trên để ngửa tay lĩnh mấy trăm nghìn đồng ô nhục đó rất đáng thương hại. Cái đáng nói là nhà cầm quyền đã đớn hèn đến cái độ phải dùng tất cả mọi chiêu thức bẩn thỉu để ngăn chặn lòng yêu nước của nhân dân, ngăn chặn sự biết ơn, tôn vinh các liệt sỹ Việt nam trong cuộc chiến tranh chống quân bành trướng xâm lược. Hành động kiểu như vậy không chỉ gây ra sự kinh ngạc cho người nước ngoài mà còn gây ra sự ngạc nhiên đến uất ức cho thân nhân của những chiến sỹ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới phía bắc.
Tại sao nhà cầm quyền lại có lối hành xử kỳ quặc, hết sức phi đạo lý như vậy? Họ không thể lấy lý do là đang áp dụng chính sách ngoại giao “ứng xử khôn ngoan và mềm dẻo” trước Trung quốc để tránh va chạm, tránh xảy ra chiến tranh. Cái kiểu "khôn" ấy trong dân gian  người ta gọi là khôn ngậm miệng ăn tiền đó thôi. Những hành động đàn áp người biểu tình chống Trung quốc   xâm lược và nhất là việc ngăn cản nhân dân thắp hương, đặt vòng hoa tưởng niệm chiến sỹ Việt nam hy sinh trong chiến tranh chống quân bành trướng Bắc kinh cho thấy thật sự họ đã hoàn toàn bạc nhược, chịu sự điều khiển của nhà cầm quyền Trung quốc để bám giữ vị trí họ đang ngồi càng lâu càng tốt nhằm thâu tóm quyền lợi cá nhân đã được quan thầy Trung quốc ban tặng.
Có cái lạ là đến thời điểm lịch sử này khi trắng đen đã rõ ràng, khi nước dân đã ngập đến cổ rồi mà họ vẫn không ngần ngại bộc lộ hoàn toàn bản chất Việt gian bán nước cầu vinh làm chư hầu cho nhà cầm quyền Bắc kinh. 
Sự nhục nhã ngày 17/2/2013 có thể gọi là gì khác được là ngày quốc nhục?


Mai Xuân Dũng

Thứ Năm, ngày 07 tháng 2 năm 2013

KHI HỘI NUÔI ONG TRAO GIẢI THƯỞNG CHO CUỐN SÁCH VIẾT VỀ HỘI NUÔI BƯỚM



Trần Mạnh Hảo

 Truyền rằng, thời vua Lê Ngọa Triều ( Lê Long Đĩnh : 986-1009, làm vua 04 năm : 1005-1009, chết lúc 24 tuổi) đưa tà thuyết Các Tư Như bên Tàu về chủ trương lấy nói dối làm quốc sách, lấy đểu giả làm đạo đức, lấy tù ngục làm tự do, bắt các làng các ấp đều phải ăn chung, làm chung, ngủ chung…khiến dân tình xã tắc loạn lạc, đói khổ lầm than, trộm cắp hoành hành, tử khí bốc mù trời…

Bấy giờ có ông phú hộ miền Vĩnh Yên tên là Có Cung sinh được quý tử tên là Có Cầu khôn ngoan dĩnh ngộ ma quỷ còn ghen tị. Có Cầu năm 16 tuồi đã đậu trạng nguyên khoa thi nói dối cấp quốc gia, được nhà vua trọng dụng, ban nhiều gấm vóc lụa là, gái đẹp rượu ngon khôn xiết kể…

Có Cầu biết nhà vua khoái uống mật ong nên lập ngay “Hội nuôi ong” thu hút hàng vạn hội viên, đặng cung cấp mật ong thứ thật cho vua. Vua khoái khẩu, bèn phong cho Có Cầu giữ chức chủ tịch “Hội nuôi ong” vĩnh viễn. Một hôm, có kẻ ghen ghét Có Cầu tâu gian rằng : Có Cầu đang toan Lập “Hội nuôi ong tay áo”, đặng âm mưu làm phản. Vua bèn tính chặt đầu Có Cầu, nhưng khi gọi y vào triều, Có Cầu tuy “ mặt như chàm đổ, mình dường giẽ run” vẫn dẻo miệng, giỏi đánh đáo lưỡi, xin với vua thay tiêu chí “Hội nuôi ong” từng ghi là “tổ chức xã hội nghề nghiệp” nay ghi cho đúng hơn : rằng : “Hội nuôi ong là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp’’…  tuyên thệ ngàn đời hội viên hội nuôi ong trung thành với nền chính trị nhà Tiền Lê…

Thế là các hội bạn, như “ Hội nuôi vẹt”, “ Hội nuôi bướm”, “ Hội gái làng chơi”, “ Hội đa thê”, “ Hội bàn đèn”, “ Hội gãi háng” ( thơ Thanh Thảo)… sợ xám mặt, tất cả đều theo gương “ Hội nuôi ong” của chủ tịch Có Cầu mà chua thêm từ “chính trị” lên trước từ “xã hội nghề nghiệp” cho đẹp lòng vua; ví như “Hội làng chơi” thì tiêu chí ghi : “ Hội làng chơi là một tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp…”

Năm ấy, chủ tịch Có Cầu hứng chí bèn tổ chức cuộc thi cho mọi hội viên “Hội nuôi ong” và bàn dân thiên hạ các hội khác, rằng ai tham gia viết một cuốn sách khảo cứu về ong hay nhất, sẽ được trọng thưởng giải nhất 20 ngàn quan tiền, giải nhì tặng thưởng 10 ngàn quan tiền và sẽ được gọi là nhà ong học hay tiến sĩ con ong. Có học giả hội viên “Hội nuôi bướm” tên là Phó Văn Chiến viết cuốn “ Bướm luận” cực hay gửi qua Hội nuôi ong dự thi. Thế quái nào cuốn “ Bướm luận” viết hay quá, khiến các quan chấm thi giải “ Ong luận” mờ mắt không còn biết đấy là ong hay bướm nữa, bèn cho cuốn viết về Bướm trúng giải thưởng cuộc thi về ong, làm dư luận khắp nước bất bình phản đối về vụ lạc đề này…

 Từ chuyện cuốn “ Bướm luận” được giải trong cuộc thi viết về loài ong đến nay kể đã hơn 900 năm rồi, ai dè đầu năm 2013 này, chuyện lộn sàn ong với bướm lại xảy ra, khiến kẻ viết bài này thất kinh viết tiếp rằng…

Đầu tháng 01- 2013, Hội nhà văn Việt Nam do ông Nguyễn Hữu Thỉnh làm chủ tịch ( hình như ông sẽ làm chủ tịch Hội này suốt đời) tuyên bố rằng cuốn : “Đa cực và điểm đến” ( NXB Hội Nhà Văn -2012) đã được số phiếu tuyệt đối ban Sơ khảo và chung khảo , trúng giải thưởng cao nhất năm 2012 của Hội; Ban sơ khảo và chung khảo bỏ phiếu 100% cho cuốn này của Văn Chinh gồm 18 vị sau :
DANH SÁCH 9 THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN PHÊ BÌNH LÀM NHIỆM VỤ SƠ KHẢO:
1- Nhà thơ, nhà LLPB LÊ THÀNH NGHỊ 
2- Nhà LLPB DƯƠNG TRỌNG DẬT
3- Nhà LLPB NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP 
4- Nhà LLPB TRỊNH BÁ ĐĨNH
5- Nhà LLPB HỒ THẾ HÀ
6- Nhà LLPB MAI QUỐC LIÊN
7- Nhà LLPB CHU VĂN SƠN 
8- Nhà LLPB TRẦN ĐÌNH SỬ
9- Nhà LLPB LƯU KHÁNH THƠ
DANH SÁCH 9 ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH LÀM NHIỆM VỤ CHUNG KHẢO NĂM 2012:
1)- Nhà thơ Hữu Thỉnh
2)- Nhà văn Nguyễn Trí Huân
3)- Nhà LLPB Lê Quang Trang
4)- Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
5)- Nhà LLPB Phan Trọng Thưởng
6)- Nhà văn Đào Thắng
7)- Nhà văn Đình Kính
8)- Nhà thơ Văn Công Hùng
9)- Nhà văn Vũ Hồng
http://vanangiang.vnweblogs.com/post/22434/401382
31 bài viết trong tập : “ Đa cực và điểm đến” của Văn Chinh lạ thay, chưa thể gọi là những bài lý luận phê bình văn học đích thực được vì nó thiếu tính sáng tạo, thiếu tính phát hiện, thiếu chất văn, thiếu tính khái quát, lại tỏ ra khá sai lạc nhiều kiến thức, ngay cả chuyện câu cú hành văn vẫn còn nhiều sai sót.

Văn Chinh trước khi về hưu là một nhà báo chuyên về trang văn hóa văn nghệ. Những bài báo viết ra để lấp chỗ trống cho trang văn hóa văn nghệ về đề tài văn học được Văn Chinh tập hợp lại in ra thành cuốn sách này.

Đâu phải cứ viết về đề tài văn học thì đều thành tác phẩm văn học. Nếu như thế thì hàng nghìn cuốn sách của các GS.TS. văn học từ năm 1954 do các đại giáo sư : Đặng Thái Mai, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Hoàng Như Mai, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Thanh Đạm, Bùi Duy Tân, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Phương Lựu…viết  đều là những tác phẩm văn học ở thể loại lý luận phê bình văn học cả ư ?

Trong những người soạn sách giáo khoa văn học Việt Nam trong thế kỷ 20, chỉ có cuốn “ Việt Nam văn học sử yếu” ( 1941) của GS. Dương Quảng Hàm xứng đáng được coi là một tác phẩm văn học. Ngoài ra, hàng trăm cuốn sách giáo khoa văn, các sách dạy học văn, bình văn của các vị GS. kể trên chưa có cuốn nào đáng được gọi là tác phẩm văn học cả. Ngay cả khi trao cho các vị trên giải thưởng Hồ Chí Minh hay giải thưởng nhà nước về công trình khoa học cũng còn chưa xứng đáng; vì các vị hầu hết đều là những nhà sai học, viết ra nhiều luận điểm phi khoa học…mà kẻ viết bài này trong gần 20 năm đã viết gần 300 bài báo để phê bình các đại giáo sư văn học và các đại tiến sĩ văn học khác…

Xin quý độc giả vào công cụ tìm kiếm http://google.com đánh tên bài viết của chúng tôi : “ GS. Hà Minh Đức được sắp được hai giải thưởng Hồ Chí Minh về một công trình không phải khoa học, cũng không phải văn học” để có bằng cứ chứng minh.


Ngay cả một Viện văn học hiện do GS.TS. Nguyễn Đăng Điệp ( thành viên ban sơ khảo Hội đồng lý luận phê bình Hội nhà văn VN) làm viện trưởng cũng chưa hiểu được ngữ nghĩa từ “Văn học” mà gọi một viện làm nhiệm vụ nghiên cứu văn học là “Viện văn học”. Xin xem bài của chúng tôi qua công cụ tìm kiếm http:// google.com :” “Thư ngỏ của Trần Mạnh Hảo gửi Viện trưởng viện văn học”


Cuốn sách “ Đa cực và điểm đến” này của Văn Chinh thực ra chỉ là một cuốn sách ở thể loại báo chí, tuyệt nhiên chưa phải là cuốn sách của môn lý luận phê bình văn học, để đến nỗi trong “ Báo cáo tổng kết lễ trao giải thưởng văn học Hội nhà văn Việt Nam 2012”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phó chủ tịch Hội nhà văn kiêm CHỦ SOÁI TRƯỜNG THƠ TÂN CON CÓC VIỆT NAM chém gió những lời tụng ca về cuốn sách trên của Văn Chinh bằng như sau :

“Đa cực và điểm đến của nhà văn Văn Chinh là cách nhìn của một nhà văn với đời sống văn học Việt Nam đương đại. Cách viết phê bình của một người trực tiếp sáng tác mà cụ thể ở đây là Văn Chinh luôn tìm cách ra sát đường biên hoặc vượt ra ngoài đường biên của lý lẽ nhiều lúc khô cứng để chạm vài những vùng mờ tối của văn bản. Chính cách này đã giúp cho người đọc có cơ hội lọt được vào những vùng mờ tối của con người nhà văn hay vùng mờ tối của văn bản nghệ thuật.”


Chính ra cuốn “ Đa cực và điểm đến” của Văn Chinh phải để cho Hội nhà báo Việt Nam xét giải thưởng vì nó ở thê loại báo chí, tuyệt nhiên không thể gọi nó là thể loại phê bình văn học được.

Cho hay, việc trông gà hóa cuốc tưởng là việc nói chơi, ai dè các hội đồng, các ban chung khảo giải thưởng văn học của ban lãnh đạo Hội nhà văn vì trình độ quá yếu kém, lại bị hội chứng mờ mắt vì vinh quang, trông ong lại tưởng bướm, nhìn sách ở thể loại báo chí lại nhầm là sách ở thể loại văn học nên đã trao giải thưởng nhầm ơi là nhầm cho Văn Chinh, từ nhà báo tò te thành là lý luận phê bình văn học hàng đầu củ Hội…he he  he…

Nhân đây, Trần Mạnh Hảo tôi xin lấy hết niềm can đảm của một con cáy mà khuyên anh Hữu Thỉnh rằng : trước tết, anh Thỉnh cần mua vài chục trứng gà con so, thêm buồng cau đẹp, bỏ vào cái làn mây đem đến nhà nữ sĩ Y Ban ( một nhà báo giỏi và một nhà văn khá giỏi) biếu bà ấy, xin mời bà ấy ra giêng thương Hội mà bớt chút thì giờ, bỏ ra hai tiếng đồng hồ, đế giảng cho Hội đồng lý luận phê bình văn học và Ban chung khảo giải thưởng văn học của Hội 2012 biết VĂN và BÁO khác nhau ra sao nhé, thưa anh Thỉnh .,.

Sài Gòn 03-02-2013

Trần Mạnh Hảo