Thứ Bảy, ngày 29 tháng 9 năm 2012

Bản lên tiếng chung của các Blogger và Nhà báo tự do về trường hợp của nhà báo Hoàng Khương


Bản lên tiếng chung của các Blogger và Nhà báo tự do về trường hợp của nhà báo Hoàng Khương
Posted on September 25, 2012 | Leave a comment

Ngày 17/9/2012

Các Bạn thân mến,
Trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, tình trạng lợi dụng chức quyền để tham ô bòn rút túi tiền của người dân ngày càng phổ biến, mục tiêu của nhà báo Hoàng Khương là chính đáng, là tích cực góp phần vào nỗ lực chung của cả nước nhằm làm trong sạch guồng máy điều hành quốc gia.
Trong môi trường hoạt động vô cùng khó khăn và hiểm nghèo của làng báo Việt Nam, trước những đe doạ vô hình lẫn hữu hình mà mỗi phóng viên luôn phải đối diện hàng ngày, hành động tác nghiệp của nhà báo Hoàng Khương là hành động can đảm, xứng đáng với đạo đức, danh dự và lương tâm của một nhà báo chân chính.
Các phóng sự của Hoàng Khương, cụ thể là “Đồng tiền xóa sạch hồ sơ” , “Cảnh sát giao thông giải cứu xe đua trái phép ”, “Nhức nhối nạn mãi lộ, ghê hơn cướp cạn”… không những góp phần soi sáng những góc tối tiêu cực của những người đang nắm trong tay trách nhiệm duy trì, gìn giữ kỷ cương pháp luật mà còn là bằng chứng hùng hồn nhất về động cơ việc làm chính đáng của nhà báo Hoàng Khương.
Dựa vào mục tiêu và việc làm, đối chiếu với những tiêu chuẩn về giá trị đạo đức, nền tảng công bằng, minh bạch của một nền pháp lý đúng đắn và những kết quả đóng góp tích cực cho đất nước của nhà báo Hoàng Khương, chúng tôi, những Bloggers và Nhà báo tự do tin tưởng và khẳng định rằng:
- Hoàng Khương là một nhà báo có lương tâm nghề nghiệp, có trách nhiệm và đặt lợi ích chung của xã hội lên trên hết.
- Hoàng Khương là một công dân Việt Nam có trách nhiệm, đã can đảm dấn thân góp phần tích cực nhằm lành mạnh hóa xã hội để phát triển đất nước.
Do đó:
- Trong một phiên tòa mà cơ quan chủ quản nơi Hoàng Khương đang làm việc không được phép tham gia tranh tụng để chứng minh hành động tác nghiệp của nhà báo Hoàng Khương hoàn toàn không có dấu hiệu vi phạm hình sự bởi bản chất hành động ấy đã góp phần làm giảm bớt mối nguy cơ do tệ nạn tham nhũng trong xã hội thì không thể kết án nhà báo Hoàng Khương. Vì vậy, bản án sơ thẩm 4 năm tù dành cho anh là một bản án bất công.
- Đây không những chỉ là bản án bất công đối với nhà báo Hoàng Khương mà còn là một bản án treo đối với những nhà báo có lương tâm, tích cực chống tham nhũng. Nó chính là sợi dây thòng lọng treo lơ lửng trên đầu giới báo chí Việt Nam.
- Bản án này hoàn toàn đi ngược lại tinh thần của mọi tuyên bố từ Đảng và Nhà nước trong việc chống sai trái, lạm quyền, lạm chức; phản bội những khát vọng và nỗ lực của nhân dân trong sứ mệnh bài trừ tham nhũng, tham ô, hối lộ, cửa quyền đã và đang phá nát xã hội Việt Nam.
Cho dù nhà báo Hoàng Khương bị cầm tù bởi bản án bất công thì hành trình anh đi vẫn sẽ được tiếp nối bởi bước chân của chúng tôi và sự đồng tình của nhân dân. Người ta có thể giam cầm anh nhưng không thể bắt nhốt sứ mệnh của anh vốn là sứ mệnh chung của bao nhiêu người.
Việc làm có ý nghĩa nhất, thực tế nhất, có lợi cho đất nước thân yêu là chúng ta sẽ luôn đứng bên anh, đứng cùng chiến tuyến của anh, và tiếp tục dấn thân vào cuộc chiến giữa thiện và ác này.
Các bạn thân mến,
Trên đây là bản lên tiếng về bản án nặng nề của nhà báo Hoàng Khương do một số bloggers và nhà báo tự do khởi xướng. Chúng tôi mong rằng mọi người đọc và chia sẻ thông tin, nếu ai đồng ý ký tên xin vui lòng gửi thông tin đăng ký gồm: Họ tên – Tên blog – Email về email: lentiengvihoangkhuong@gmail.com
Tất cả các bạn bloggers xin vui lòng đăng tải Bản Lên Tiếng này trên blog cá nhân nếu ủng hộ.

Chân thành cám ơn tất cả mọi người!

Những người ký tên:

1. Blogger Hành Nhân
2. Blogger Huỳnh Công Thuận
3. Blogger Huỳnh Thục Vy
4. Blogger Trịnh Kim Tiến
5. Blogger Quang Minh Đỉnh
6. Blogger Mẹ Nấm
7. Blogger Vũ Đông Hà
8. Blogger Phạm Văn Hải
9. Blogger Phương Bích
10. Blogger Đào Hữu Nghĩa Nhân
11. Blogger Nguyễn Ngọc Lịch
12. Blogger Lê Anh Hùng
13. Nhà báo Nguyễn Quốc Chính
14. Blogger Lê Dũng
15. Nhà báo Bình Minh – Báo Trí Nhân Media
16. Blogger Nguyễn Thị Mỹ Linh
17. Blogger David Thiên Ngọc
18. Blogger Nguyễn Bá Chổi
19. Blogger Jimmy Hoàng Lê
20. Blogger Phi Vũ
21. Ký giả Trương Minh Đức
22. Linh mục DDCT Ân Thanh – Truyền thông Chúa Cứu Thế Sài Gòn
23. Nhà báo tự do Lê Diễn Đức
24. Facebooker Nguyễn Hồ Nhật Thành
25. Facebooker Võ Quốc Anh
26. Facebooker Trần Hoài Bảo
27. Facebooker Nguyễn Văn Dũng
28. Facebooker Nguyễn Văn Hùng
29. Phóng viên VNRs Huỳnh Nguyễn Minh Toàn
30. Facebooker Trần Đức Anh
31. Facebooker Võ Trường Thiện
32. Facebooker Lý Liêm Chandler
33. Facebooker Đoàn Hương Giang
34. Facebooker Trần Xuân Huyền
35. Facebooker Nguyễn Lân Thắng
36. Facebooker Nguyễn Tiến Nam
37. Facebooker Bùi Thị Trúc Phương
38. Facebooker Huỳnh Trung Tín
39. Facebooker Mịchael Ngo
40. Facebooker Hoàng Xuân Lĩnh
41. Facebooker Lê Sinh Mẫn
42. Facebooker Lê Quốc Tuấn
43. Facebooker Bùi Việt Hà
44. Blogger Tô Oanh
45. Blogger Nguyễn Hoàng Vi
46. Blogger Vũ Thế Phan
47. Blogger Trương Bá Thụy
48. Blogger Bùi Hằng (Bùi Thị Minh Hằng)
49. Blogger Đinh Tấn Lực
50. Blogger Nguyễn Lương Khanh
51. Facebooker Trần Phong
52. Facebooker Châu Văn Thi
53. Facebooker Trịnh Anh Tuấn
54. Facebooker Phương Nguyễn
55. Facebooker Lê Thị Hy Vọng
56. Facebooker Phạm Đình Diệm
57. Facebooker Đặng Văn Lập
58. Nhà báo tự do Nguyễn Quang Duy
59. Facebooker Trịnh Văn Toàn
60. Facebooker Nguyễn Đình Khôi
61. Facebooker Trương Minh Tịnh
62. Facebooker Vũ Thùy Liên
63. Facebooker Lê Trung
64. Facebooker Lê Công Qui
65. Blogger Lê Hiền Đức
66. Nhà báo tự do Tạ Dzu
67. Facebooker Nguyễn Quang Duy
68. Facebooker Nguyễn Văn Khải
69. Facebooker Phạm Đức Tuấn
70. Nhà báo – Blogger Huỳnh Ngọc Chênh
71. Blogger Nguyễn Nghĩa
72. Linh mục Đinh Hữu Thoại – DCCT Sài Gòn – Truyền thông Chúa Cứu Thế
73. Blogger D.D –  Australia
74. Blogger Nguyễn Ngọc Già
75. Blogger Hồ Quang Huy
76. Blogger Phạm Bá Hải
77. Blogger Trịnh Hội

Thứ Năm, ngày 27 tháng 9 năm 2012

MÁU VÀ MẶT TRỜI Ở ĐẤT NƯỚC TÔI


Blog Nồng Nàn Phố

(Thế hệ chúng ta sẽ phải sám hối không phải cho những hành động độc ác của những người xấu xa, mà là sự im lặng đáng sợ của người tốt)



Ơ!
Anh cũng như tôi sao?
Chúng ta đều một loại
Đểu

Ơ!
Anh cũng câm, mù, điếc như tôi ư?
Thích ngoác mồm nghe chuyện khiếu
Nhưng lại không dám mở mồm chửi lũ cầm dấu mộc đập vào đầu những người mặc áo đỏ
Màu áo đỏ không phải là hiện linh cho màu cờ Tổ Quốc mà là cái giá của tự do được tính bằng máu và sự nhục mạ

Ơ!
Anh cũng sợ những trò gian trá
Đổi trắng thay đen, tô hồng quá khứ
Hiện tại chỉ là một vòng xiềng xích, gông tù khóa giữ
Vạn trái tim chẳng thích đập đúng giờ

Ơ!
Anh cũng làm ngơ
Cũng lướt thật nhanh
E dè nhìn những trang web lên án sự thật đang oằn mình vì bị tường lửa rào bắn
Cũng ân hận
Vì lỡ mở mồm nhắc đến “Đất nước, biển đảo, rừng sông này là của con Lạc cháu Rồng?”

Xin cứ nói không
Nếu ai đó hỏi: Mày có yêu quê hương, chồng vợ?
Có muốn trả nợ
Cho dòng máu chảy oan phí ngoài Hoàng Sa, Trường Sa
Cho dòng uất ức chảy oan phí vào những ngày chủ nhật ở Hà Nội, Sài Gòn, ở những con phố chỉ quen ngát mùi hoa sữa, liễu và me
Cho dòng căm thù chảy oan phí trong những phiên tòa câm, điếc, mù, đui và vô luật
Cứ dấu diếm, cứ khuất tất
Chả ai dám á họng đòi công bằng khi mà cả đất nước này đang rạp đầu nhận mình là nô lệ

Xin cứ thế
Cứ như tôi
Như anh
Như chúng ta
Một thế hệ đói lòng tự quyết!!

Nhiệt huyết chỉ là trò hề
Người già quay lưng
Trẻ con muôn đời thích khóc
Thanh niên ko dám ngẩng mặt
Nhìn mặt trời và biển đảo quê hương…
Đang tứa máu

Mặt trời và máu
Ở đất nước tôi
Cứ chảy!!!

Thứ Ba, ngày 25 tháng 9 năm 2012

Tin khẩn cấp: Công An bắt Blogers chặn đoàn xe giáo dân Hà nội đi hành hương ở thành phố Vinh Nghệ an



Trương Sỏi

Tin mới nhất nhận được: blogger Vũ Triệu Bảo Ngọc vừa bị bắt khi vừa đến thành phố Vinh.  Được biết blogger Ngọc đi cùng với giáo dân trên chuyến xe thứ nhất. Sau khi đã bị giữ chung với giáo dân ngồi bên vệ đường giữa đêm khuya vài giờ, anh đã đón taxi đi đến Vinh. Xe taxi vừa đến thành phố lúc 4h sáng, đã bị Công An ập đến kiểm soát xe và hành lý. Sau đó, blogger Ngọc  bị đưa về Công An Thành Phố Vinh mà không có thông báo nguyên nhân.

Được biết blogger Vũ Triệu Bảo Ngọc là 1 nghệ sĩ ghita luôn đi đầu trong các cuộc biểu tình.  Tiếng nhạc của anh và tiếng đàn của nhạc sĩ Tạ Trí Hải luôn làm ấm lòng những người yêu nước tham gia biểu tình chống Trung Quốc.
Theo tin tức cộng tác viên TTXVA cho biết Công An đã chận đoàn xe Giáo dân Hà Nội đi hành hương đến thành phố Vinh vào nữa đêm hôm qua 25/9/2012.

“Đoàn xe Giáo dân Hà Nội đi hành hương, đến địa phận Nghệ An bị một xe CSGT biển số 37A-9669 chặn lại từ lúc 0h5 phút, đến 0h45 đã tăng cường một xe biển kiểm soát 37A-7777 với 2 CSGT đến kiểm tra và tiếp tục giữ không cho xe bà con đi. Hành động gì đây?”

Trên xe thứ 1 có hơn 20 người, nhưng chủ yếu là người già.  Công An chận xe giữa đường tại đường mòn Đông Hiếu Thị xã Thái Hòa.  Sau đó Công An tiến hành thủ tục giữ xe.  20 người già bị đuổi xuống ngồi bên vệ đường suốt từ nữa đêm đến sáng.  Đến 5h sáng, Công an mới cho xe chạy đi vì không tìm được lý do gì để bắt giữ.

Xe thứ 2 khởi hành chậm hơn. Sau đó đã bị chận tại Diên Châu. Cũng cùng chung tình hình là xe bị giữ lại không cho tiếp tục hành trình. Cả đoàn cũng người ngồi dưới sương đợi trời sáng… Hiện chưa có tin tức về chuyến xe thứ 2 này.

Trong khi đó, cộng tác viên TTXVA tại Vinh cho biết trời đang mưa tầm tã… mặc dù vậy các quãng đường từ chợ Vinh đến quãng trường đã bị Công An chốt chặt và chận giao thông.  Nhiều xe bị chận lại vô lý để khám xét và bắt người vô cớ.

TTXVA tiếp tục cập nhật…

Chủ Nhật, ngày 23 tháng 9 năm 2012

TRAO ĐỔI VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN TRẦN BẠT VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO (Bài 2)



Trần Mạnh Hảo
Bài 2. Tác giả gửi trực tiếp cho Blog Mai Xuân Dũng

Trong phần “Khế ước xã hội”, trang 110, 111 cuốn “Nguyễn Trần Bạt- Cội nguồn cảm hứng”,tác giả viết : “Một người sinh ra trên hoang đảo, anh ta sẽ không có nhu cầu nhận thức về tự do, mặc dù anh ta đang có tự do.  Như thế, vấn đề trước tiên cần bàn bao giờ cũng là,tự do trong mối tương quan giữa người dân và nhà nước, và tự do giữa con người với nhau trong xã hội”
Trong định đề trên, ông Bạt sao đã vội cấp cho “một con người sinh ra trên hoang đảo” chứng chỉ TỰ DO khí sớm? TỰ DO bao giờ cũng cần đi kèm những điều kiện của nó. Một con người bị tách ra khỏi xã hội loài người, con người đó làm sao có tự do ? Anh ta ( chị ta) sống một mình trên hoang đảo, dĩ nhiên không được hưởng sự giáo dục tối thiểu. Một người dốt liệu có tự do không ? Không phải cứ sống hoang dã như loài thú thì có tự do.
Vả, ông Bạt đưa con người vào hoàn cảnh phi xã hội, phi nhận thức, phi lịch sử như trên  rồi ban cho nó món tự do của loài huơu nai mà được ư ? Trong hành trình của con người hoang dã này, sao nó chỉ được xét  trong mối quan hệ với xã hội và con người mà thiếu vắng một MỐI QUAN HỆ GỐC là mối quan hệ với TỰ NHIÊN…
Tách con người ra khỏi tự nhiên mà chiêm ngưỡng xem nó có tự do hay không là quan điểm rất duy tâm về con người. Ở chỗ này, ông Bạt đã  tiếp thu cái sai lầm to lớn của Marx, khi định nghĩa về con người như sau : “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Marx sai là đã tách con người ra khỏi thế giới tự nhiên. Cần phải sửa câu định nghĩa về con người của Marx như sau mới chính xác : “CON NGƯỜI LÀ TỔNG HÒA CÁC MỐI QUAN HỆ TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI”
Trước khi Marx ra đời trên dưới hai trăm năm, một nhà bác học người Anh theo phái tự nhiên là John Locke  đã khẳng định con người có ba quyền lớn nhất mà Chúa Trời ban cho như Ngài đã ban cho muông thú : QUYỀN ĐƯỢC SỐNG, QUYỀN TỰ DO VÀ QUYỀN SỞ HỮU. Sau này triết gia người Mỹ Jefferson đã dựa vào thuyết này của John Locke mà viết ra bản “tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ” bất hủ. Tách rời tự nhiên ra khỏi con người, nên Marx đã rất hồ đồ cho rằng : mọi tội lỗi, mọi sự thống khổ của con người đều do quyền tư hữu, sở hữu mà ra. Chao ôi, khi quyết liệt xóa tư hữu, xóa sở hữu, Marx đã hạ bệ  con người xuống dưới  cả loài kiến; vì con kiến cũng biết tư hữu, sở hữu cái tổ của chúng, sở hữu miếng ăn của chúng và sở hữu cái râu của chúng…
Cho nên, trong các nước cộng sản sau Marx, người ta đề ra một khẩu hiệu rất ngông cuồng là cần phải chống lại thiên nhiên, là vì vậy…
Con người đi tìm tự do cho mình thông qua thiên nhiên, thông qua xã hội và thông qua mối quan hệ đồng loại. Không có thiên nhiên tham dự vào hành trình tìm kiếm cuộc sống và tự do, con người sẽ không bao giờ có tự do.
Nguyễn Trần Bạt đã rất đúng và rất dũng cảm khi viết : “Qua những nghiên cứu về thực trạng thế giới thứ ba ( Việt Nam nằm trong số này-chú của TMH),tôi nhận ra rằng, phần rộng lớn của thế giới lạc hậu nhất là về chính trị và biểu hiện quan trọng nhất của sự lạc hậu ấy là nhân dân ở đó không có tự do” ( trang 12, cuốn : “Nguyễn Trần Bạt : Cải cách và sự phát triển – NXB Hội nhà văn 6-2011)
Khẳng định nười dân Việt Nam hôm nay sống trong chế độ cộng sản “lạc hậu nhất về chính trị” hoàn toàn không có tự do là một thách thức lớn của Nguyễn Trần Bạt với nhà đương cục độc tài.
 Ngay sau những dòng đáng nể trên, ông Bạt khí chủ quan khi đưa ra một hằng đẳng thức có vẻ thiếu sự kiểm soát của khoa học : “Những nghiên cứu của tôi đã đi đến một kết luận có tính nguyên lý về lý luận, đó là KHÔNG THỂ CÓ SỰ PHÁT TRIỂN NÀO ĐI TRƯỚC TỰ DO…” ( sách vừa dẫn trang 12)
  Khái niệm TỰ DO không chấp nhận cái ác và cái cực đoan. Chỉ xét trong hoàn cảnh Việt Nam từ năm 1986, năm nhà cầm quyền Việt Nam bỏ chủ nghĩa cộng sản để xây dựng nền kinh tế tư bản, mặc dù chưa có tự do; rõ ràng xã hội đã có sự phát triển hơn trước, cứu dân Việt Nam thoát khỏi cuộc chết đói vĩ đại có tên là chủ nghĩa xã hội. Nên nhớ học thuyết Marx căn bản là học thuyết về kinh tế.( CỘNG mọi tài SẢN  của dân vào tay đảng cộng sản). Bỏ kinh tế độc quyền bị kế hoạch hóa để làm kinh tế tư bản : đa nguyên kinh tế, đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn phủ nhận học thuyết Marx. Chính họ là những kẻ CHỐNG ĐẢNG NHẤT chứ không phải là những nhà dân chủ đối lập bị họ gán cho tội chống đảng rồi bắt giam cầm trong nhà tù như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải sẽ ra tòa ngày 24/9/2012.
Nhà Đường Trung Hoa có nền kinh tế và văn hóa phát triển hơn châu Âu đang chìm đắm trong bóng đen trung cổ, mặc dù các vua nhà Đường chưa hề biết khái niệm tự do. Chính Tôn Trung Sơn từng khẳng định : người Trung Hoa suốt 5000 năm lịch sử không bao giờ có tự do, cũng không hề nhận thức về tự do .
Ngay thế giới Ả Rập thời đó cũng phát triển hơn châu Âu mặc dù họ chưa có tự do. Trung Quốc ngày nay là một đất nước KHÔNG CÓ TỰ DO nhưng là một ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN vào loại hàng đầu thế giới về kinh tế. Do đó kết luận : KHÔNG CÓ SỰ PHÁT TRIỂN NÀO ĐI TRƯỚC TỰ DO của Nguyễn Trần Bạt là không đúng.
Nguyễn Trần Bạt đã rất đúng khi khẳng định chỉ có nền chính trị đa nguyên ( đa đảng) mới là nền chính trị tự do : “Một thể chế chính trị hợp lý là một thể chế có khả năng được điều hành bởi những đảng chính trị khác nhau. Đó là CHÍNH TRỊ TỰ DO”( Cải cách và phát triển, trang 92, sách vừa dẫn)
Nhưng sau đó chỉ 4 trang, ông Bạt đã tự mâu thuẫn, nói ngược lại ý mình như sau : “Tự do về chính trị là giải phóng con người ra khỏi chính trị chứ KHÔNG CÓ NỀN CHÍNH TRỊ TỰ DO”  ( sách đã dẫn, trang 96).
Một nền chính trị đa đảng do dân bầu nên người cầm quyền là một nền chính trị vương đạo, một nền chính trị tư do. Ngược lại một nền chính trị độc tài, độc đảng là một nền chính trị bá đạo, nền chính tri không tự do, thiếu vắng nhân quyền.
Rõ ràng ông Bạt còn tỏ ra lúng túng và bất cập về quan niệm giữa tự do và chính trị.
Phủ nhận vai trò thiết yếu của các cuộc cách mạng trong vấn đề tạo dựng tự do, Nguyễn Trần Bạt viết : “Tôi cho rằng, mọi cuộc cách mạng đều không đem lại tự do, các cuộc chỉnh lý sau cách mạng đem lại tự do chứ không phải các mạng. Mọi người tưởng rằng cách mạng Pháp mang lại tự do, nhưng trên thực tế đã tạo ra Napoleon…”( Cải cách và sự phát triển –NXB Hội nhà văn 6-2011, trang 93).
Nguyễn Trần Bạt viết như thế là hoàn toàn sai. Chính cuộc Cách mạng Pháp 1789 đã tạo ra khẩu hiệu tuyệt vời : TỰ DO-BÌNH ĐẲNG- BÁC ÁI.Đây chính là cuộc CÁCH MẠNG CỦA TỰ DO. Naponeon chính là sản phẩm tự do của cách mạng Pháp. Chính nhờ thiên tài quân sự vô song của Naponeon mà thành quả tự do của cách mạng Pháp không bị liên minh quân sự hùng mạnh của các vua Châu Âu bóp chết. Sau khi chiếm gần trọn châu Âu, Napoleon đã gieo hạt giống tự do dân chủ lên toàn châu lục này. Bộ luật DÂN SỰ của Napoleon rất tiến bộ, khẳng định quyền tự do, quyền sống, quyền tư hữu của công dân, giải thoát người nông dân châu Âu thoát khỏi vòng nô lệ của các lãnh chúa là bô luật vĩ đại, là bước tiến lớn của lịch sử nhân loại. Sau hai trăm năm từ khi bộ LUẬT DÂN SỰ của Naponeon ra đời, luật pháp, hiến pháp của các quốc gia Âu Mỹ hầu như vẫn còn giữ lại tinh thần giải phóng, tinh thần tự do của Naponeon. Lấy việc xưng Hoàng Đế của Napoleon để phủ nhận vai trò tiên phong của ông giữ gìn và phát huy tinh thần tự do của cách mạng Pháp, Nguyễn Trần Bạt hầu như chưa nghiên cứu kỹ lịch sử thế giới.
Nếu không có Naponeon, thế giới ngày nay chưa thể đạt được sự toàn thắng của Tự do; trừ năm nước cộng sản : Trung-Việt-Triều-Cu-Lào vẫn còn giữ chế độ độc tài, một chế độ mà Cách mạng Pháp và Naponeon đã xóa sổ từ hơn hai trăm năm trước.
Còn có thể kể thêm hai cuộc cách mạng khác đã tạo tự do cho nhân dân,là Cách Mạng Tân Hợi 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, lật đổ nhà Thanh, mang lại nền cộng hòa cho dân tộc Trung Hoa, và cách mạng bất bạo động của Mahatma Gandhi giành độc lập cho Ấn Độ năm 1947.
Cần phải trích thêm một đoạn văn khác của Nguyễn Trần Bạt, để thấy sự ngộ nhận của ông về chuyện các cuộc cách mạng không mang lại tự do là một lô cốt ông không thể vượt qua để đi tới khái niệm tự do : “Không có hòa bình thì con người chạy trốn để tìm cách tồn tại. Tồn tại là mục tiêu của những hoạt động phi hòa bình ( tức chiến tranh)…Chính vì thế, tự do hoàn toàn không phải là sản phẩm của các cuộc cách mạng…Các nhà  cách mạng tạo ra một trạng thái bịa đặt, một trạng thái được gọi là tự do sau khi ra khỏi tù…”(Sách đã dẫn, trang 93,94,95)
Những nhận xét của ông Bạt trên đều không đúng. Chính Naponeon đã dùng đại bác để rao giảng tự do, dùng chiến tranh để tạo dựng tự do trên phần lớn các lãnh thổ châu Âu phong kiến.
Nhận thức về tự do của ông Bạt quả là ấu trĩ khi ông viết : “Tự do không phải là giải phóng nô lệ vì giải phóng nô lệ là giải phóng con người ra khỏi trạng thái bị giam hãm chứ không đem lại tự do thực sự cho con người”.(Sách đã dẫn gtrang 94)
Viết như thế này, Nguyễn Trần Bạt đã vô tình xúc phạm người anh hùng giải phóng nô lệ Abraham Lincoln ?
Chúng ta còn có thể tìm thấy khá nhiều sự bất cập, thiếu vắng tinh thần khoa học trong sách của ông Nguyễn Trần Bạt, không chỉ sai về quan niệm tự do, mà còn sai nhiều nơi rải rác như khi ông bàn về dân chủ, về kinh tế, văn hóa hay toàn cầu hóa…Hẹn bạn đọc trong một dịp khác chăng ?
Khi chúng tôi đang ngồi viết bài báo này thì nhận được điện thoại của nhà báo, nhà thơ Lê Phú Khải gọi lên từ Cần Thơ : “ Này, Trần Mạnh Hảo đừng để mất uy tín khi viết bài khen ngợi sách của ông Nguyễn Trần Bạt nhá. Ông ta đã phản bội các cuốn sách của mình rồi. Vừa qua, ông Bạt trong một bài trả lời phỏng vấn ca ngợi nhà nước cộng sản Việt Nam là không phải toàn trị, không phải độc tài, nghĩa là ngầm khen nhà nước độc đảng này dân chủ. Ông Bạt còn dám lăng nhục những người dân biểu tình đòi lại đất bị chính quyền ăn cướp là bọn người ăn vạ chính phủ. Ông Bạt còn nói nghiên cứu xã hội thì phải đứng trên lập trường của nhà cầm quyền…Nghĩa là ông Bạt đã lừa chúng ta bằng các cuốn sách dân chủ dỏm, tự do lừa. Thực ra ông Bạt là con bài của nhà nước đã bị lật mặt…Anh Hảo cho tôi ( LPK) nhắn với Nguyễn Trần Bạt rằng : ông ta là một ngụy trí thức, là một người bỉ ổi…Anh Hảo hãy vào mạng xem bài của Phạm Hồng Sơn viết về Nguyễn Trần Bạt…”
Tôi hơi bị choáng váng bởi hai cú điện thoại của nhà báo Lê Phú Khải nói về ông Nguyễn Trần Bạt. Tôi đã vào mạng đọc bài của anh Phạm Hồng Sơn, và phần nào thông cảm với sự nổi giận của anh Lê Phú Khải. Chỉ xin trích những lời ông Nguyễn Trần Bạt trả lời phỏng vấn để bạn đọc phán xét, trích từ bài báo :“Hơn hai sai lầm nguy hiểm của ông Nguyễn Trần Bạt” của Phạm Hồng Sơn  Tháng 9 4, 2012 in trên © 2012 pro&contra.
Chúng tôi chỉ xin trích những lời phát biểu của ông Nguyễn Trần Bạt, ngược hoàn toàn với tinh thần khai phóng, chan chứa nỗi niềm tự do dân chủ của ông từng thể hiện trong các cuốn sách của ông, như sau :
 “Ông Nguyễn Trần Bạt trả lời phỏng vấn Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ.”[i] 
Ông Nguyễn Trần Bạt phát biểu: “Và đến bây giờ, tôi kết luận là: không có bất kỳ nguy cơ nào về mặt chính trị cho các nhà cầm quyền, cho Đảng Cộng sản Việt Nam và cho chính phủ Việt Nam khi chúng ta có một xã hội dân sự lành mạnh. Ngược lại, nó gỡ cho họ những gánh nặng khủng khiếp trong việc bành trướng cơ cấu nhà nước để tổ chức quản lý xã hội, cái mà nhiều người không thiện chí gọi là toàn trị. Tôi cho khái niệm toàn trị là một khái niệm thuần tuý lý thuyết. Xã hội chúng ta thực ra cũng không toàn trị. Các nhà lãnh đạo của chúng ta không có ai toàn trị.”
Khi bàn đến vấn đề nhân quyền (quyền con người) ông Nguyễn Trần Bạt có đưa ra hai nhận định:
Nhận định (1): “Người ta tưởng rằng nhân quyền gắn liền với sự đòi đất, kêu oan, biểu tình, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Con người sở dĩ ăn vạ chính phủ là vì họ không có năng lực.”
Nhận định (2): ”Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống.”
Về chỗ đứng của nghiên cứu khoa học
Nguyễn Trần Bạt phát biểu: “Nghiên cứu xã hội học tức là anh phải đặt mình vào địa vị của nhà cầm quyền, bởi vì bao giờ những nghiên cứu xã hội cũng phải bắt đầu từ lực lượng xã hội mạnh nhất, mà lực lượng xã hội mạnh nhất chính là các đảng chính trị cầm quyền. Vì nếu không xuất phát từ quyền lợi của các đảng chính trị cầm quyền thì các khái niệm tử tế không hình thành được. Cho nên phải đặt mình vào địa vị của họ để nghiên cứu cái mà mình muốn có hại gì cho họ không?”
Ông Nguyễn Trần Bạt ơi, sao lại quay ngoắt 180 độ như thế này? Ông vừa mới phê phán đảng cộng sản Việt Nam là độc tài, là phi dân chủ, là tước đoạt tự do của nhân dân Việt Nam, sao giờ ông lại đổi giọng nịnh đảng thế, lại chửi dân oan, lại công khai nói ông đứng hẳn về phía chính quyền để nghiên cứu xã hội. Ông đã làm tổn thương đến tình cảm của tôi dành cho ông trong hai bài viết về những cuốn sách rất đáng đọc của ông.
Xin ông thương lấy những cuốn sách rất được của mình mà đừng phản bội nó, hơn nữa lại đang tâm phản bội độc giả từng đánh giá cao ông,ít ra là trong thái độ dũng cảm dám đương đầu với cường quyền.,.
Sài Gòn ngày 23-9-2012

Trần Mạnh Hảo

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 9 năm 2012

TRAO ĐỔI VỚI NHÀ NGHIÊN CỨU NGUYỄN TRẦN BẠT VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO



Trần Mạnh Hảo

 Bài 1. Tác giả gửi trực tiếp cho Blog Mai Xuân Dũng
Ông Philipp Rösler Bộ trưởng bộ kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, kiêm Phó Thủ tướng Đức, trong buổi gặp gỡ sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội ngày 19-9-2012, đã nhấn mạnh vấn đề then chốt của nền kinh tế Việt Nam nằm trong hai tiếng TỰ DO : “không có tự do thì làm sao người ta có thể suy nghĩ, quyết định và hành động một cách tự chủ đầy trách nhiệm được“. Ông Rosler nhấn mạnh : “ Việt Nam cần phải để nhân dân có quyền tự do dân chủ thì mới phát triển được nền kinh tế”. Trích bài :”Bộ trưởng Rösler tại đại học Hà Nội: “Việt Nam cần nhiều cải cách dân chủ”
http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/09/viet-nam-can-nhieu-cai-cach-dan-chu.html
 Xem ra, lúc này, TỰ DO thiết yếu với con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam như dưỡng khí. Không có tự do, dân tộc ta, đất nước ta hầu như không có gì cả. Ông Hồ Chí Minh cũng có lúc phải thốt ra : “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “ Có độc lập mà không có tự do hạnh phúc, coi như không có gì cả”…
 Trong lúc quyền tự do của người dân Việt Nam đang bị nhà nước hạn chế : hiếp pháp cho tự do báo chí nhưng dân không được ra báo tư; hiến pháp cho biểu tình nhưng nếu người dân ( ông chủ) biểu tình yêu nước sẽ bị công an nhà nước ( nô bộc) đàn áp bắt bỏ tù; hiến pháp cho tự do lập hội nhưng anh Điếu Cày vừa lập câu lạc bộ báo chí tự do mới có ba thành viên ( Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải) cả ba người liền bị bắt giam lâu ngày, sẽ ra tòa ngày 24-9-2012 sắp tới); hiếp pháp cho tự do tôn giáo nhưng một số nhà sư, một số cha cố, mục sư, thầy chùa của đạo Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo và giáo dân vẫn bị đàn áp bắt bớ; hiếp pháp cho dân được tự do cư trú nhưng chính sách hộ khẩu lại ngăn cấm…thì việc nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt viết nhiều bài bàn về vấn đề TỰ DO thật đáng quý biết bao.
 Ông Nguyễn Trần Bạt, trong thời gian vừa qua, nổi lên như một hiện tượng hiếm có trong các vấn đề lý luận từ văn hóa đến chính trị, từ triết học đến kinh tế…như một nhà nghiên cứu lý luận nổi bật nhất của Việt Nam hôm nay, với gần chục tập sách dày cộm được nhà nước cho phép xuất bản công khai. Chỉ đọc qua một số mệnh đề rút gọn được ông Nguyễn Trần Bạt in trên mép gấp bìa bốn các cuốn sách của mình, cũng thấy ông dám dũng cảm thách thức nhà đương cục cộng sản Việt Nam, đặng công phá những lô cốt tuyên giáo đầy rào gai, đầy gươm giáo búa liềm kinh khiếp, cũng đủ thấy bản lĩnh của ông ghê gớm nhường nào; và cũng thấy nhà cầm quyền đã nhân nhượng khá nhiều để cho sách ông được in và phát hành công khai trên danh nghĩa lề phải…
 Khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vốn coi trí thức là cục phân ( Mao Trạch Đông nhắc lại lời Lenin trong thư gửi Goocki), cấm đối lập, tức cấm các ý trái chiều, trái với ý nhà nước, nhất là cấm đối lập chính trị ( mà đối lập là linh hồn biện chứng pháp Marxism), Nguyễn Trần Bạt dám thách thức chính quyền để đưa ra định nghĩa về trí thức như sau : “ Tiêu chuẩn thứ nhất là trí thức phải cầm quyền về mặt lẽ phải, thứ hai là trí thức phải luôn luôn đối lập với nhà cầm quyền, đối lập với quá khứ, đối lập với nhau và đối lập với các yếu tố bên ngoài” ( mép gấp bìa bốn cuốn : “ Nguyễn Trần Bạt – Đối thoại với tương lai- tập 2-NXB Hội nhà văn 3-2011)
 Khi nhà cầm quyền coi chính trị là thống soái, Nguyễn Trần Bạt vạch ra nền giáo dục Việt Nam sa đọa là vì nó bị chính trị hóa, như sau : “Cải cách giáo dục về bản chất là phi chính trị hóa giáo dục, trả lại cho học đường tất cả những sự yên tĩnh của nó” ( sách đã dẫn)
 Trên mép gấp bìa bốn cuốn “Cải cách và sự phát triển” ( NXB Hội Nhà Văn 6-2011), Nguyễn Trần Bạt vạch ra một mệnh đề sống còn của đảng cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam là khi nền chính trị tuyệt đối nằm trong tay một đảng cầm quyền thì nhân dân thực chất không có một chút quyền lực nào : “ Nếu xã hội tiếp tục là sở hữu của các tập đoàn chính trị, thậm chí người ta xây dựng các pháp chế để hợp pháp hóa vai trò làm chủ xã hội về mặt chính trị của các tập đoàn chính trị thì tức là không có nhân dân trong đó, tức là không có dân chủ”…
 Chúng ta có thể tìm thấy trong ngót chục cuốn sách của Nguyễn Trần Bạt những mệnh đề chính trị xã hội ngược với các giáo điều cộng sản đang tồn tại trên mặt lý thuyết ở nước ta hôm nay. Có thể nói, lần đầu tiên, ở Việt Nam sau năm 1975 đến nay, có một tác giả viết sách thực thi vai trò trí thức phản biện xã hội, dám đụng đến các vấn đề cốt lõi của chế độ độc đảng, độc quyền, lại hi hữu được nhà cầm quyền cho xuất bản rộng rãi- đó là tác giả Nguyễn Trần Bạt. Ông là người học được tinh thần đối lập của Marx để viết ra nhiều cuốn sách như một nhà nghiên cứu, một lý luận gia đối lập, nơi chính quyền tuyệt đối cấm đối lập. Đó chính là thành công lớn của Nguyễn Trần Bạt. Ông đã, đang và sẽ được lịch sử vinh danh vì dám dũng cảm nói lên tiếng nói chân thực của người trí thức trước các vấn đề chưa có lối thoát của xã hội, góp phần khai mở dân trí. Chúng tôi đánh giá rất cao công trạng này của ông.
 Tất nhiên, trong quá trình viết ra những cuốn sách dày cộm đầy những sự nhạy cảm có phần nguy hiểm như thế, tác giả Nguyễn Trần Bạt có khi phải vòng vo Tam Quốc, có khi vừa viết vừa run nên có chỗ phải thỏa hiệp, cải lương, lại có khi mập mờ đa ngữ nghĩa nên còn một số vấn đề chưa rốt ráo, hoặc chưa chính xác, chưa được khoa học cho lắm, cần phải thảo luận lại. Trước hết, đó là vấn đề TỰ DO.
 Vấn đề này Nguyễn Trần Bạt nhắc đến trong hầu hết các tác phẩm lý luận của mình. Trong bài này ( chia làm hai kỳ), chúng tôi chỉ xin bàn với ông Nguyễn Trần Bạt về khái niệm Tự do, về các vấn đề liên quan đến tự do trong xã hội Việt Nam hôm nay nơi cuốn sách “ Nguyễn Trần Bạt – Cải cách và sự phát triển” ( NXB Hội Nhà Văn 6-2011), và cuốn “ Nguyễn Trần Bạt – cội nguồn cảm hứng” ( NXB Hội nhà văn 6-2011)
 Trong cuốn “ Cội nguồn cảm hứng”, ở trang 118, Nguyễn Trần Bạt viết : “Con người không được nhân danh bất kỳ điều gì để chuyển toàn quyền tự do cá nhân của mình, vì chuyển nhượng toàn bộ các quyền tự do cá nhân chính là nô lệ. Trong xã hội hiện đại, có một số dân tộc nhượng bán toàn bộ quyền tự do cá nhân cho Chúa, đó chính là nô lệ tinh thần”…
 Ở mệnh đề này, Nguyễn Trần Bạt dựa vào quan điểm khá sai lầm của Marx : “ Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” để lập luận, để nô lệ hóa những người có niềm tin tôn giáo vào Chúa. Hóa ra, những người tin Chúa không bao giờ có tự do sao ? Đây là vấn đề lớn trong khái niệm TỰ DO nên chúng tôi thấy cần bàn rốt ráo với ông Nguyễn Trần Bạt.
 Cần phải nhớ rằng, Chúa Jesus vừa là nhân vật huyền thoại vừa là nhân vật lịch sử có thật. Ngài đến thế giới để giải phóng con người, mang tự do đến cho người bị áp bức, cụ thể là để giải phóng nô lệ trong một đế quốc La Mã chiếm hữu nô lệ. Đạo của Người thuở ban đầu hầu như đa phần dân nô lệ đi theo.
 Đây là lời Chúa Giêsu rao giảng sự thật và tự do : “Nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8, 36)
Thánh Phaolô nói về yếu tính tự do của Đức Giêsu: “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người.” (1Cor 9, 19).
 Còn có thể trích ra trong Kinh Thánh rất nhiều cân bàn về tự do :
“Anh em đã được kêu gọi để hưởng tự do, vậy chớ dùng tự do mà làm tôi xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu mến mà phục vụ nhau.” (Ga 5, 13)
“Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật tự do.” (Gc 2, 12).
“Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do.” (2Cor, 3, 17).
 Khái niệm tự do, vấn đề tự do, mối quan hệ tự do giữa cá nhân và xã hội đã được các nhà khai sáng Pháp và  Âu Mỹ thế kỷ Ánh sáng ( thế kỷ 18) đặt ra rối ráo nhất, căn bản nhất bằng những khế ước xã hội quy định quyền tự do là quyền thiêng liêng nhất của con người. Trừ nhà triết học vĩ đại Voltaire bỏ Chúa, còn tất cả các nhà khai sáng dưới đây dù chống giáo hội nhưng họ vẫn là những người tìm thấy tự do trong Chúa : George Berkeley, Thomas Paine, Jean-Jacques Rousseau, David Hume, Montesquieu, Volff, Immanuel Kant, Benjamin Franklin, Denis Diderot, D’Alembert, Adam Smith, Thomas Jefferson ( người viết “bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ)...
 Vậy theo ông Nguyễn Trần Bạt, chẳng lẽ các nhà khai sáng ra các giá trị tự do đích thực trên đều là bọn nô lệ tinh thần vì họ đã “nhượng bán quyền tự do cá nhân cho Chúa” ư ?
 Trong bản “tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ” năm 1776 và bản “tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” 1789 của Cách mạng Pháp, là hai bản tuyên ngôn đặt vấn đề căn bản của con người là tự do đều tuyên xưng Chúa ( Tạo hóa, Đấng tối cao) chẳng lẽ lại là những văn bản của người nô lệ “ bán nhượng quyền tự do cá nhân cho Chúa” theo quan niệm khá sai lầm của Nguyễn Trần Bạt trên hay sao ? :
 Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".( trích bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ 1776)
http://vi.wikisource.org/wiki/Tuy%C3%AAn_ng%C3%B4n_%C4%90%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp_Hoa_K%E1%BB%B3
 “Và như thế, Quốc Hội công nhận và tuyên bố, trong sự hiện diện và dưới sự che chở của Đấng Tối Cao, những quyền sau đây của con người và của công dân:
Các điều khoản
1.      Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Sự phân biệt xã hội chỉ được phép thành lập trên cơ sở nó đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng.”(trích tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền cách mạng Pháp 1789)...
http://danluan.org/tin-tuc/20091211/ban-tuyen-ngon-nhan-quyen-va-dan-quyen-cua-cach-mang-phap-1789
Ngày nay, các vị nguyên thủ quốc gia Âu Mỹ ( kể cả Nga) khi nhậm chức đều để tay lên cuốn Kinh Thánh thề trung thành với Chúa và hiến pháp tự do dân chủ của mỗi nước.
Nguyễn Trần Bạt tự mâu thuẫn với mệnh đề trang 118 của ông, rằng người tin Chúa hiến trọn tâm hồn và thể xác cho Ngài không có tự do, chỉ là những nô lệ tinh thần; trang 123, ông viết ngược lại rằng người tin Chúa, biết đối thoại với Chúa ( thần thánh) cũng là người tự do : “Bất kể sự thỏa thuận nào cũng thể hiện quyền tự do của con người. Khi con người đối thoại với nhau, với nhà cầm quyền, thậm chí với thần thánh chính là lúc con người thể hiện tự do của mình”...
Với những nước văn minh theo chế độ đa nguyên tự do dân chủ, tôn giáo là vấn đề tâm linh thiêng liêng nhất của con người. Với họ, tôn giáo và tự do không hề đối lập; ngược lại từ trong khái niệm thần học Thượng Đế, tự do đã được khai mở và phát huy những giá trị đẹp nhất nơi con người.
Những triết gia tiền Ki-tô giáo thời cổ Hi Lạp đã coi tự do tinh thần giúp con người đạt tới cõi thần linh. Platon và Aristote cho rằng : “Đời sống cao nhất của con người là suy tưởng vì ở đó con người được sống cuộc đời thần thánh, nơi đó tự do và nhận thức hợp thành một …đời sống tự do thực sự của con người đã tạo nên hình ảnh của trí năng cũng như tư duy về cái tốt lành”
Immanuel Kant, một tín đồ sòng đạo từng coi Thượng Đế chính là cái tuyệt đối của triết học, là khởi nguồn tư duy tự do đầy mặc khải, cũng xác định: “Một con người sinh hoạt theo lý trí sẽ nhất thiết sống tự do, không còn bị chi phối bởi cảm giác và nhục dục”
Thánh Saint Augustine , nhà triết học, thần học Kinh viện lớn nhất từng nói rằng: “Ý chí Thượng đế là căn bản tự do”
Hegel, người mang cái tuyệt đối Thượng Đế từ trời cao xuống trần gian đã nói về tự do như chìa khóa mở vào cái tất yếu, cái mà hình như chỉ có Chúa mới nhìn ra được, rằng : “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”, rằng : “Bản tính của tinh thần là tự do”. Khái niệm tinh thần Hegel dùng ở đây chính là tinh thần Thiên Chúa giáo vậy…

( Còn tiếp)
 Sài Gòn ngày 21-9-2012

Trần Mạnh Hảo

Thứ Ba, ngày 18 tháng 9 năm 2012

LÀM NGƯỜI TỐT HAY NGƯỜI CÓ ÍCH ?


Xét ở một khía cạnh nào đó thì làm người tốt chưa chắc hữu ích và ngược lại làm người hữu ích chưa chắc đã tốt.
Khái niệm "Tốt" và "Có ích" chỉ là tương đối cũng như vừa làm người tốt và hữu ích thì quá tuyệt. Chuyện viết lâu rồi nay moi lên săm soi lại.


 Mình có thói xấu ai cũng chơi từ xe ôm cho đến nghệ sỹ thứ thiệt, từ thằng lưu manh cho chí công an có cỡ. Khỉ thế.
Tất nhiên cái “chơi” ở đây cũng nhiều vẻ, người ta có là lưu manh nhưng thấy cái mặt mình họ nở nụ cười : “Đi đ... đâu mà lâu lắm mới thấy cái thớt thế?” để thay cho tiếng chào. Vậy thì cũng phải đáp lễ chứ, chẳng hạn như “thằng bố mày, đi ăn cắp chứ còn đi đâu”. Xong. Lại nhe răng ra cái.
Rồi vô tình gặp nhau ở quán bia, ông nghệ sỹ nhân dân xịn đấy, ra vỗ vai mình cái độp “thằng em dạo này khỏe quá rồi hay sao mà thấy các huynh lại lờ đi thế”. Cũng là một kiểu chào. Chẳng phải bác có ý trách móc gì mình. Cũng chả phải bác “bắt lỗi” cái tội không ra chào huynh trước. Chả phải. Quán đông như hội có thấy được nhau cũng chỉ là ngẫu nhiên nếu không hẹn trước. Nói chung mình không có khiếu làm giám đốc nhà máy đường. Nói năng  lỗ mỗ, người yêu thì ít, kẻ ghét thì...ối. Nó là do cái ách Giời quàng vào cổ thì đành mang. Ai chả muốn khéo muốn giòn, có ai thích té tỏng cho mòn lỗ trôn.
Đã thế lại còn hay nghi ngờ, ai nói gì cũng nghe chừng, chả vồ vập ngay bao giờ. Ngậm quả đắng quá nhiều rồi cũng phải sáng mắt ra chứ. Một lần ngồi bia cỏ đang vui, có một ông đi cùng với thằng bạn mình mua một lúc 20 phong kẹo cao su cho một con bé bán dạo chiều nào cũng quanh quẩn ở quán này. Ông này khách mới không biết chứ anh em ở đây lạ gì cái thằng cô hồn đứng sau gốc xà cừ "chăn" 3 đứa trẻ bán dạo ở đây. Có mua giúp thì gọi là đôi phong thôi chứ. Ông bạn mình khen đểu: "Mày đúng là người tốt cuối cùng của thành Tứ Xuyên đấy". Cha này chắc đang quắc cần câu nên lè nhè “ Cái gì mà tốt? Tao là thằng vô tích sự. Làm người tốt thì đ... có ích mà muốn làm người có ích thì đ... được phép tốt”. Ối giời ơi ông Lưu linh ơi, phàm phu tục tử của Ngài đấy phải không.
Bẵng đi một dạo, có lần ngẫu nhiên, tiện đường rẽ qua chùa Lam chơi gặp một Huynh  chuyên đi dịch chữ Hán chữ Nôm theo lời mời của các sư thầy ở Hà nội. Huynh bảo “Đệ ở đây ăn cơm với Huynh hầu chuyện Bạch thầy luôn. Về bây giờ muộn rồi nhỡ bữa ra”. Bạch thầy cũng là chỗ mình quen từ hồi chiến tranh phá hoại nên đỡ ngại, mình nhận lời.
Vào mâm Bạch thầy rót rượu mời khách và cũng nhập tửu đều đều. Ban đầu chuyện quanh quanh cái văn bia. Bạch thầy chê bản rập tồi quá rồi thì tranh luận với Huynh về dòng bia khắc Lưỡng long triều nguyệt có trước hay Lưỡng phượng triều dương có sớm hơn. Mình cứ ngồi uống. Thì biết gì mà nói chứ.
Cũng may Huynh quay sang truyện Tôn, Bàng thời Chiến quốc nghe mới thấy đỡ nhạt một chút. Đúng lúc đó Bạch thầy nói một câu y khuân cái câu hôm trước được nghe: “Làm người tốt thì đ... có ích mà muốn làm người có ích thì đ... được phép tốt”. Giật mình. 
Túm lược lại cho gòn gọn chuyện Bạch thầy kể thế này.
Tôn Tẫn là người nước Yên, cha là Tôn Tháo, mẹ là Công Chúa Yên Đơn, ông nội là Tôn Võ Tử. Tôn Tẫn lớn lên, nghe đồn Quỉ Cốc Tiên Sinh có tài cao phép lạ , nên tìm đến xin thọ giáo. Ở Dương Thành thuộc đất nhà Châu, có một chỗ gọi là Quỉ Cốc, vì nơi ấy có núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề. Trong núi có một ẩn sĩ họ Vương tên Hủ , trước ở núi Vân Mộng cùng Mặc Địch hái thuốc, tu Tiên, sau đến ẩn nơi Quỉ Cốc, nên người ta thường gọi là Quỉ Cốc Tiên Sinh .
Quỉ Cốc Tiên Sinh có học vấn uyên thâm, tu Tiên đắc đạo, tinh thông lý số, thông hiểu lẽ huyền vi của Trời Đất, lại cũng làu làu binh thư đồ trận. Học trò của Quỉ Cốc Tiên Sinh có nhiều người tài giỏi như : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi, vv... Tôn Tẫn và Bàng Quyên thì học về binh pháp. Còn Tô Tần và Trương Nghi thì học về du thuyết .
Bàng Quyên học được mấy năm, tự cho mình đã giỏi rồi, nên xin thầy hạ sơn đi lập công danh. 
Quỉ Cốc sai Bàng Quyên đi hái một cành hoa đem về để đoán vận mạng cho. Bàng Quyên ra khỏi động, nhằm lúc khí Trời nóng nực, cây cối không ra hoa, chỉ thấy một bông hoa cỏ, liền nhổ lên cả gốc, toan đem về, bỗng nghĩ rằng bông hoa không đẹp nên ném xuống đất, rồi đi tìm hoa khác, nhưng không tìm được cành hoa nào, đành trở lại chỗ cũ, nhặt cành hoa đã bỏ lúc nảy, bỏ vào túi áo, rồi vào trình thầy rằng :
- Trong núi mùa nầy không có hoa. 
- Không có hoa thì vật gì trong túi áo của ngươi đó ?
Bàng Quyên không giấu được, buộc phải đưa ra trình.
- Nhà ngươi có biết cái hoa nầy tên gì không ? Nó là hoa Mã Đâu Linh, mỗi lần nở 12 bông, ứng với số năm vẻ vang của ngươi. Hoa nầy hái ở Quỉ Cốc, thấy mặt Trời thì héo, bên chữ Quỉ có chữ Ủy thành chữ Ngụy, nhà ngươi xuất thân ở nước Ngụy. Sau nầy nhà ngươi vì việc lừa dối người mà bị người lừa dối lại. Vậy nên lấy điều đó mà răn mình. Ta có 8 chữ nầy, nhà ngươi khá nhớ : “ Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng.” 
Bàng Quyên lạy thầy 2 lạy mà rằng :
- Lời giáo huấn của sư phụ, đệ tử hết lòng ghi nhớ.
Bữa đó, Tôn Tẫn tiễn Bàng Quyên xuống núi. 
Bàng Quyên nói :
- Đệ cùng huynh kết nghĩa anh em, thề giàu sang cùng hưởng, khốn khó cùng gánh. Chuyến này nếu đệ lập được công danh thì sẽ tiến cử huynh để cùng lập nên cơ nghiệp.
Hai người chia tay, Tôn Tẫn buồn rớm nước mắt, trở lên núi. Quỉ Cốc Tiên Sinh hỏi Tôn Tẫn :
- Ngươi bảo cái tài của Bàng Quyên làm được Đại tướng không ?
- Nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, lẽ nào Bàng Quyên không làm được Đại Tướng ?
- Không làm được.
Tôn Tẫn nghe thầy nói vậy thì lấy làm lạ nhưng không dám hỏi thầy lý do. Hôm sau, Quỉ Cốc bảo các học trò :
- Ban đêm, ta rất khó ngủ, ta rất ghét tiếng chuột kêu. Các trò phải luân phiên nhau thức mà đuổi chuột cho ta.
Các trò đều vâng lời, chia phiên thức gác. Tới phiên Tôn Tẫn, Tiên sinh lấy một quyển sách trao cho Tôn Tẫn nói :
- Đây là 13 thiên binh pháp của ông nội nhà ngươi tên là Tôn Võ Tử, xưa đem dâng cho vua Hạp Lư nước Ngô, nhờ đó mà Hạp Lư phá tan quân Sở. Hạp Lư giữ cuốn sách nầy làm gia bảo, bỏ vào hộp sắt, giấu vào cột Cô Tô Đài. Từ khi quân nước Việt đốt Cô Tô Đài, cuốn sách ấy mất tích luôn.Ta có chơi thân với ông nội ngươi, nên được xem sách ấy, ta nhớ và ghi lại, tự tay ta chú giải thêm nhiều điều bí mật trong cách hành binh. Ta chưa từng cẩu thả giao sách cho ai, nay thấy ngươi trung hậu, nên ta giao cho ngươi học, trong 3 ngày giao lại cho ta. Học cuốn sách nầy, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì hại rất lớn. Bàng Quyên không là người tốt, nên ta không dạy.
Tôn Tẫn đem sách về phòng, ngày đêm nghiền ngẫm, trong 3 ngày thì nằm lòng. Ba ngày sau, Tôn Tẫn đem sách nộp cho thầy. Tiên Sinh theo từng thiên hỏi lại Tôn Tẫn, Tôn Tẫn đối đáp rất trôi chảy. Tiên Sinh mừng rỡ nói :
- Ngươi biết dung tâm như thế, Tổ phụ ngươi chắc vui lòng.
Nói về Bàng Quyên, xuống núi thẳng đến nước Ngụy, vào cầu quan Tướng quốc Vương Thác. Vương Thác tiến cử Bàng Quyên lên Ngụy Huệ Vương. Khi Bàng Quyên vào chầu vua, gặp lúc nhà bếp dâng lên món thịt dê. Bàng Quyên mừng thầm vì nhớ lời thầy dặn: “Gặp dê thì vinh” .
Bàng Quyên được Huệ Vương trọng dụng, lần lần phong lên đến chức Nguyên Soái, kiêm Quân Sư. Con trai là Bàng Anh, cháu là Bàng Thông, Bàng Mai đều được vua phong làm Tướng, cả nhà vinh hiển. 
Lúc bấy giờ có Mặc Địch ghé Quỉ Cốc thăm bạn cũ là Vương Hủ (Quỉ Cốc Tiên sinh), Mặc Địch gặp Tôn Tẫn, đàm luận rất hợp ý, bèn bảo Tôn Tẫn :
- Anh học nghệ đã thành, sao không đi lập công danh ?
- Tôi có người bạn học là Bàng Quyên, đã ra làm quan ở nước Ngụy, có hẹn khi nào đắc chí sẽ tiến cử tôi, nên tôi đợi.
- Bàng Quyên đã làm Nguyên soái nước Ngụy, để tôi vì anh mà đến đó dọ ý Bàng Quyên thế nào ?
Mặc Địch từ giã Quỉ Cốc rồi đi vào nước Ngụy, nghe Bàng Quyên cậy tài, nói quá không biết thẹn, không có ý tiến cử Tôn Tẫn. Mặc Địch vào nói cho Huệ Vương rõ các việc. Huệ Vương liền đòi Bàng Quyên đến hỏi :
- Ta nghe nói Tôn Tẫn cùng học một thầy với Nguyên soái, lại được học riêng binh pháp bí truyền của Tôn Võ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao Nguyên soái chẳng vì Quả nhân mà tiến cử người ấy đến giúp Trẫm. 
- Tâu Bệ hạ, hạ thần không phải không biết tài của Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn là người nước Tề, nay làm quan nước Ngụy thì thế nào cũng liên lạc với Tề. Nay Bệ hạ muốn triệu Tôn Tẫn thì hạ thần xin viết thơ gọi đến.
Bàng Quyên ở vào thế buộc phải viết thơ gọi Tôn Tẫn, nhưng thâm tâm rất sợ Ngụy Vương trọng dụng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên thầm tính kế hại Tôn Tẫn. 
Bàng Quyên viết thư xong, Huệ Vương dùng xe Tứ Mã và đồ lễ long trọng, sai người đến Quỉ Cốc rước Tôn Tẫn.
Tôn Tẫn tiếp được thư Bàng Quyên, vội đem trình thầy. Tiên sinh bảo Tôn Tẫn đi hái một cành hoa để bói coi tốt xấu. Tôn Tẫn thấy bình hoa trên án có một cành hoa cúc, bèn đến bẻ lấy một nhánh đem trình thầy xong đem cắm lại bình.
Tiên sinh đoán rằng : Cành hoa này bị bẻ, không hoàn hảo, nhưng là loài chịu sương gió, dẫu có bị tàn hại cũng không hề gì. Vả cắm trong bình, mọi người đều quí trọng, mà cái bình ấy lại là loại đúc cùng một thứ với chung đỉnh, chắc rồi sẽ có tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng cành hoa nầy 2 lần cắm vào bình, vậy sự nghiệp của ngươi chưa thể đắc ý ngay được, mà kết cuộc sẽ làm nên ở lần sau. Vậy ta đổi tên cho, có thể mong tiến thủ được. Tên ngươi là TÂN, ta thêm một chữ NHỤC ở bên tả thành chữ TẪN, vậy tên của ngươi là Tôn Tẫn. (Tân là khách, Tẫn là bị chặt xương đầu gối). Quỷ cốc tiên sinh đổi tên như thế là vì biết trước học trò mình bị cái hoạ chặt chân,nhưng không muốn tiết lộ. 
Khi Tôn Tẫn lạy thầy từ biệt, Tiên sinh trao cho một cẩm nang, dặn kỹ khi nào gặp việc nguy cấp mới mở ra xem. Tôn Tẫn lạy tạ lần nữa, rồi xuống núi, đến nước Ngụy, tạm ở trong phủ của Bàng Quyên.
Bàng Quyên biết Tôn Tẫn tài giỏi hơn mình, sợ Ngụy Vương dùng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên Bàng Quyên, ngoài mặt giả đò anh em thân thiết, nhưng ngầm lập kế ám hại Tôn Tẫn. Thời gian sau gặp dịp Bàng Quyên giả mạo chứng cớ, cáo buộc Tôn Tẫn tư thông nước Tề để hại nước Ngụy. Huệ Vương nghe lời sàm tấu của Bàng Quyên, sai quân bắt Tôn Tẫn chặt chưn và thích vào trán 4 chữ “ Tư thông ngoại bang”.
Tôn Tẫn trở thành phế nhân, mỗi ngày chỉ được Bàng Quyên cấp cho 3 bữa ăn, mong dùng thủ đoạn để gạt người bạn cũ chép cho 13 thiên binh pháp truyền lại cho mình.
Tôn Tẫn bị Bàng Quyên hãm hại quá chán nản cho tình người đen bạc, lại bị vết thương chặt chân hành hạ quá đau đớn, muốn tìm kế thoát thân, nhưng chưa biết phải làm sao, sực nhớ bức cẩm nang thầy ban cho khi trước luôn giấu trong mình, liền thừa lúc thanh vắng mở ra xem, thấy vuông lụa đề 2 chữ : Giả điên.
Buổi chiều hôm ấy, khi mâm cơm đưa tới, Tôn Tẫn cầm đủa định ăn, bỗng làm ra dáng mê man, nôn oẹ, hồi lâu nổi giận giương mắt hét to lên rằng : Mày dùng thuốc độc hại ta, rồi hất đổ mâm cơm xuống đất, miệng lảm nhảm chửi hồi lâu. 
Bàng Quyên nghe tin Tôn Tẫn bị điên thì không tin, đến tận nơi xem xét và nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo, tự tay đem cơm đến cho ăn. Tôn Tẫn hét : “ Mày đem thuốc độc đến hại ta ?” Nói rồi gạt mâm cơm đổ xuống đất.  Bàng Quyên ngầm sai lính lấy một cục bùn đưa Tôn Tẫn thì Tôn Tẫn liền cầm lấy ăn ngon lành. Bấy giờ Bàng Quyên mới tin Tôn Tẫn điên thật nên không lấy làm lo, dần dần thả lỏng Tôn Tẫn.
Lại nói Mặc Địch sang chơi nhà Điền Kỵ nước Tề. Có người học trò tên Cầm Hoạt ở nước Ngụy đến. Mặc Địch hỏi thăm Cầm Hoạt lúc nầy Tôn Tẫn có đắc ý không ? Cầm Hoạt thuật lại việc Tôn Tẫn bị chặt chưn và trở nên điên khùng.
Mặc Địch nói : 
- Ta muốn tiến cử hắn nào ngờ lại thành ra hại hắn.
Mặc Địch liền nói rõ tài học của Tôn Tẫn cho Điền Kỵ nghe và việc Bàng Quyên ganh tài ám hại Tôn Tẫn, khuyên Điền Kỵ tìm cách rước Tôn Tẫn sang Tề. Điền Kỵ vào tâu với vua Tề là Tề Uy Vương. Uy Vương muốn đem binh đón Tôn Tẫn thì Điền Kỵ can, nói phải lập kế mới rước Tôn Tẫn được. 
Uy Vương sai Thuần Vu Khôn sang Ngụy dâng trà, đem Cầm Hoạt đi theo giả làm kẻ hầu. Qua đến Ngụy, Cầm Hoạt bí mật đi tìm Tôn Tẫn, rước về Tề.
Thuần Vu Khôn và Cầm Hoạt đưa được Tôn Tẫn ra khỏi nước Ngụy thì đi thẳng về Lâm Tri, có Điền Kỵ thân hành ra đón. Tề Uy Vương cả mừng, muốn phong Tôn Tẫn làm Quân Sư, nhưng Tôn Tẫn tâu rằng :
- Hạ thần chưa có chút công trạng chưa dám nhận quan tước. Vả nếu Bàng Quyên biết thần làm quan cho Tề ắt lo đề phòng, chi bằng tạm giữ kín danh phận việc mới thành.
Uy Vương bằng lòng, cho Tôn Tẫn ở trong dinh Điền Kỵ, tôn là thượng khách.
Lúc đó, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên đi đánh nước Triệu để đòi đất Trung Sơn. Quân Triệu bị thua. Triệu Thành Hầu cầu Tề cứu viện. Tề Uy Vương định phong Tôn Tẫn làm Đại Tướng đem binh cứu Triệu. Tôn Tẫn can rằng :
- Hạ thần là kẻ tàn phế, nếu cho làm Đại Tướng e cho quân địch sẽ cười Tề không có tướng tài, chi bằng Đại Vương cử Điền Kỵ làm Tướng, và hạ thần mật theo giúp mưu kế.
Tề Uy Vương cử Điền Kỵ làm Đại Tướng, Tôn Tẫn làm Quân Sư bí mật ở trong xe, kéo đại binh cứu Triệu.
Điền Kỵ muốn đem quân thẳng đến Hàm Đan là kinh đô của Triệu. Tôn Tẫn nói : Tướng nước Triệu không đánh nổi Bàng Quyên, nên khi ta kéo quân đến đó thì Hàm Đan đã mất về tay quân Ngụy rồi, chi bằng ta cứ đóng quân giữa đường, rêu rao nói rằng ta đi đánh Tương Lăng của Ngụy. Huệ Vương lo sợ, ắt phải gọi Bàng Quyên trở về giữ Tương Lăng. Bấy giờ ta đón đánh Bàng Quyên thì thế nào cũng thắng.
Điền Kỵ y theo kế đó mà làm. Quả đúng như lời Quân Sư Tôn Tẫn, Bàng Quyên kéo binh về giữ Tương Lăng. Điền Kỵ bày binh theo cách của Tôn Tẫn, đánh Bàng Quyên một trận tơi bời, Bàng Quyên ban đêm chạy trốn về Ngụy.
Năm sau, Bàng Quyền cùng Thái Tử Thân đem binh đánh nước Hàn. Hàn sang cầu cứu Tề. Tề Uy Vương cử Điền Kỵ và Tôn Tẫn đi cứu Hàn.
Điền Kỵ muốn kéo quân đến nước Hàn. Tôn Tẫn lại can:
- Không nên, trước kia ta cứu Triệu mà chưa hề đến Triệu, nay cứu Hàn cũng y theo kế hoạch đó. Cái thuật giải cứu Hàn là phải đánh vào nơi yếu trọng của Ngụy thì quân Ngụy tất phải kéo về. Cái kế ngày nay là phải đem binh thẳng đến kinh đô Ngụy thì mới cứu được Hàn.
Bàng Quyên đang thắng thế ở nước Hàn, nhưng Ngụy Huệ Vương ra lịnh cho Bàng Quyên phải tức tốc rút binh về đón đánh quân Tề đang thừa cơ kéo đến đánh kinh đô của Ngụy. Tôn Tẫn bày kế lừa Bàng Quyên. Quân Tề làm như sợ hãi khi biết Bàng Quyên kéo quân trở về Ngụy. Ban đầu làm 10 vạn bếp, sau đó rút quân như bỏ chạy, hôm sau làm 6 vạn bếp, hôm sau rút chạy nữa, chỉ còn làm 3 vạn bếp.
Bàng Quyên cho quân quan sát các bếp của quân Tề, cười lớn nói với Thái Tử Thân :
- Thật là hồng phúc của Ngụy Vương, quân Tề hèn nhát, vào đất Ngụy có 3 ngày mà binh sĩ bỏ trốn quá nửa. Kỳ nầy, Quyên sẽ bắt sống bọn Điền Kỵ để rửa cái hận Tương Lăng năm trước. 
Nói xong, Bàng Quyên chọn 2 vạn tinh binh tiến gấp đánh quân Tề, còn đại binh từ từ đi sau. 
Tôn Tẫn dọ biết tin đó, tính toán và dự kiến đoàn quân của Bàng Quyên sẽ đến Mã Lăng vào lúc tối. Đường Mã Lăng ở giữa hai trái núi có cây cối um tùm, rất dễ phục binh. Tôn Tẫn sai chặt cây ngã ngang để chẹn lối đi, chỉ chừa một cây to giữa đường, cho cạo sạch một một ô vuông vỏ cây ở phía Đông, rồi dùng than viết lên đó mấy chữ : “ Quân Sư Tôn bảo : Bàng Quyên chết tại cây nầy.”
Tôn Tẫn sai bộ tướng Viên Đạt, Độc Cô Trần, kén 5000 quân cung nỏ, mai phục 2 bên tả hữu Mã Lăng, dặn kỹ hễ nơi gốc cây có ánh lửa phát ra thì nhất tề nhắm vào đó bắn.
Lại sai Điền Anh dẫn 1 vạn quân mai phục cách Mã Lăng 3 dặm chẹn đường quân Ngụy.
Tôn Tẫn trù liệu xong thì cùng Điền Kỵ dẫn binh lên đóng phía Bắc để dự bị tiếp ứng.
Bàng Quyên kéo binh đến Mã Lăng thì trời vừa tối, thấy cây cối bị đốn ngã nằm ngổn ngang, cho rằng quân Tề sợ quân Ngụy đuổi theo kịp nên đốn cây cản đường.
Bàng Quyên cho thu dọn cây cối, bỗng thấy có một cây giữa đường, có viết chữ nhưng trời tối không thấy rõ. Bàng Quyên sai một tên lính châm lửa lên xem, Bàng Quyên đọc xong mấy chữ thì la lên : 
- Ta mắc mưu thằng què rồi !
Vừa la xong thì có cả muôn mũi tên từ nỏ bắn ra, quân Ngụy chết vô số. Bàng Quyên bị trọng thương, liệu không thoát được, bèn rút kiếm đâm cổ chết.
Mệnh của Bàng Quyên đúng y như lời của Quỉ Cốc Tiên Sinh đã nói trước : Ngươi sẽ vì lừa người mà bị người lừa lại, gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng. Bàng Quyên chết tại Mã Lăng. (Mã là ngựa).
Giết xong Bàng Quyên rồi, Tôn Tẫn xin với vua Tề cho về ẩn dật tu luyện ở núi Thạch Lư. Một năm sau, không còn ai biết Tôn Tẫn ở đâu nữa. 
Bạch thầy chuyện vãn cho rằng: chuyện xưa xem ra bây giờ vẫn vậy. Giá như Quỷ cốc đừng dạy dỗ Bàng Quyên đâu đến nỗi Bàng chết thảm, Tôn đâu đến nỗi phải chịu nhục hình mà cuối cùng có được cái gì đâu ở đời? Cũng vậy, làm gì mà Chính phủ chả biết vua Vinashin Phạm Thanh Bình làm bậy mà cứ lần lữa bao che, để đến khi chuyện vỡ lở mất toi trăm nghìn tỷ mới đem giam lỏng há chẳng phải là làm cái việc cho là “tốt” mà thành ra báo hại đó sao. Giá như Tể tướng “chảm” ngay Thanh Bình từ trước có phải nhà nước kịp vớt vát được tiền của mà danh cũng không đến nỗi liệt như bây giờ.
Trước tôi nghe đâu Tể tướng lấy lòng ba quân nói cái “tốt” của mình là mấy năm nay không phạt ai thì đã liệu ra rằng cái “tốt” này rồi có ngày báo hại. Ngẫm thế mà chẳng sai.
mai xuân dũng

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 9 năm 2012

KARL MARX BÁC BỎ VĂN BẢN CẤM TỰ DO BÁO CHÍ CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG



TRẦN MẠNH HẢO

Ngày 12/09/2012 trên các báo lề phải ( mà không phải) , lề trái ( mà không trái) đều có in lệnh cấm tự do báo chí của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, có đoạn viết như sau :
Điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải thông tin chống Đảng và Nhà nước
6:00 PM, 12/09/2012
.
(Chinh phu.vn) – Ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc đăng tải thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước..
Qua xem xét các báo cáo số: 277/BC-BCA-A61 ngày 15/6/2012, số 335/BC-BCA-A61 ngày 09/7/2012 của Bộ Công an; công văn số 78/BTTTT-PTTH&TTĐT ngày 29/6/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông; công văn số 2794-CV/BTGTW ngày 19/7/2012 của Ban Tuyên giáo Trung ương và báo cáo số 172-BC/VPTW ngày 07/9/2012 của Văn Phòng Trung ương Đảng về tình trạng một số trang thông tin điện tử như: “Dân làm báo”, “Quan làm báo”,”Biển Đông”… và một số trang mạng khác, đã đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch.” (hết trích)
Chúng tôi xin mượn lời của ông tổ chủ nghĩa cộng sản là KARL MARX bàn về tự do báo chí để chống lại cái lệnh cấm tự do báo chí của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phát ra. Dưới đây toàn là lời Marx, tuyệt đối không cần lời bình của chúng tôi. Mà lời Marx trích trên website đỏ rực có tên là : http://www.marxists.org :


“Anh muốn người khác đối xử với anh như thế nào thì anh hãy đối xử với họ như vậy...
Tự do báo chí cũng vốn có cái vẻ đẹp của nó... và cần phải yêu nó để có thể bênh vực nó.
Tự do báo chí, cũng giống như người thầy thuốc, không hứa hẹn sự hoàn thiện cho mỗi dân tộc cũng như cho toàn thể nhân loại...
Nếu sự chưa trưởng thành của loài người là lý do thần bí chống lại tự do báo chí, thì kiểm duyệt là phương tiện hữu hiệu nhất để chống lại sự trưởng thành của loài người...
Sự giáo dục thật sự không phải là bắt con người suốt đời nằm trong tã lót... Nếu tất cả chúng ta nằm trong tã lót thì ai sẽ quấn tã lót cho chúng ta, nếu tất cả chúng ta nằm trong nôi thì ai sẽ đưa nôi cho chúng ta, nếu tất cả chúng ta nằm trong tù thì ai sẽ là người coi tù?...
Báo chí bị kiểm duyệt, với sự giả dối của nó, với cái ngôn ngữ của gã hoạn quan của nó, với cái đuôi chó ve vẩy của nó thì chỉ bộc lộ cái bản chất của nó mà thôi... Gã thái giám không còn là đàn ông mặc cho hắn ta có giọng nói tốt đến đâu đi chăng nữa. Còn báo chí tự do vẫn tốt ngay cả khi nó mang lại những kết quả xấu, bởi vì những kết quả xấu ấy chỉ là những cái đi chệch bản chất của báo chí tự do. Thiên nhiên vẫn tốt ngay cả khi nó sinh ra những quái vật. Bản chất của báo chí tự do là bản chất đạo đức, cá tính, có lý tính của sự tự do. Bản chất của báo chí bị kiểm duyệt là con quái vật không có cá tính của sự thiếu tự do, là con quái vật được văn minh hóa, là cái quái thai được tắm nước hoa...
Sự kiểm duyệt chân chính, bắt nguồn từ bản chất cảu báo chí tự do, là sự phê bình. Sự kiểm duyệt của nhà nước là sự phê bình độc quyền của chính phủ...Khi sự phê bình không đứng trên các đảng phái mà bản thân lại trở thành một đảng phái, khi sự phê bình không phải là lưỡi dao sắc bén của lý tính mà là lưỡi kéo cùn của sự tùy tiện, khi sự phê bình chỉ muốn lên tiếng phê bình mà không muốn chịu sự phê bình,... coi việc dùng sức mạnh thô bạo là luận cứ mạnh mẽ, - khi đó lẽ nào sự phê bình không đánh mất sự hợp lý tính của mình?...
Ở một nước có sự kiểm duyệt thì bất cứ tập sách nào không qua kiểm duyệt mà được xuất bản thì đều là một sự biến. Tập sách ấy được coi là kẻ tử vì đạo, mà kẻ tử vì đạo thì không thể thiếu vầng hào quang và những tín đồ bao quanh nó...
Không thể lợi dụng được những ưu điểm của báo chí tự do nếu không đối xử độ lượng với những bất tiện của nó. Hồng nào mà chẳng có gai! Nhưng quý vị hãy thử nghĩ xem quý vị mất gì cho báo chí tự do!?...
Báo chí tự do là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân của sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình, là sợi dây liên hệ biết nói, nối liền các cá nhân với nhà nước và với toàn thế giới...Báo chí tự do là tấm gương tinh thần mà trong đó nhân dân nhìn thấy bản thân mình, là tinh thần nhà nước mà mỗi túp lều tranh đều có thể có được với chi phí thấp hơn chi phí dành cho phương tiện thắp sáng...Báo chí tự do là thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ hiện thực rồi lại chảy về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí, dưới hình thức của cải tinh thần ngày càng dồi dào...
Chỉ có báo chí bị kiểm duyệt mới có tác dụng làm suy đồi đạo đức. Đạo đức giả, đó là tệ lớn nhất của nó... Chính phủ chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình,... Còn nhân dân thì một phần rơi vào mê tín chính trị, một phần rơi vào ngờ vực chính trị, và một phần thì hoàn toàn quay lưng lại đời sống dân tộc và chỉ sống với cuộc sống riêng tư...
Cũng vì nhân dân buộc phải coi những tác phẩm tự do của tư tưởng là những tác phẩm phạm pháp, cho nên họ quen coi cái phạm pháp là tự do, coi cái tự do là phạm pháp, coi cái hợp pháp là không tự do. Chế độ kiểm duyệt bóp chết tinh thần nhà nước như thế đấy!...
Kẻ nào có lưỡi mà im lặng, hoặc có kiếm mà không đâm, kẻ đó sống chỉ vô ích!...
Tinh thần con người phải được phát triển một cách tự do theo quy luật vốn có của nó và phải được quyền thông báo cho người khác biết điều mà họ đã đạt được. Nếu không như thế thì những dòng suối mát sẽ biến thành những bãi lầy hôi thối... Nếu như một người không có quyền chỉ trích thì cả lời khen của người ấy cũng vô nghĩa...” (hết trích)
Karl Marx, 04/1842


Thứ Bảy, ngày 08 tháng 9 năm 2012

CÓ PHẢI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NGẦM CÔNG NHẬN “ĐƯỜNG LƯỠI BÒ” NGOÀI BIỂN ĐÔNG LÀ CỦA TRUNG QUỐC ?


TRẦN MẠNH HẢO

Sáng nay, vào đọc các báo mạng lề phải ( mà không phải), lề trái ( mà không trái) đều thấy in bài của Thông tấn xã Việt Nam nhan đề : “Việt Nam và Trung Quốc cần tăng cường sự tin cậy” nói về cuộc gặp gỡ giữa chủ tịch nước Trương Tấn Sang và chủ tịch nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa kiêm chủ tịch -tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại diễn đàn APEC 20 Vladivostok ( Nga). Riêng báo Tuổi Trẻ đặt lại “tít-đầu đề” : “Không để biển đông ảnh hưởng đến quan hệ Việt Trung’ đúng nhất với tinh thần nội dung thảo luận của hai vị chủ tịch hai nước : NƯỚC MÔI và NƯỚC RĂNG, xin trích :

“Thứ Bảy, 08/09/2012, 08:12 (GMT+7)
Không để biển Đông ảnh hưởng quan hệ Việt - Trung
TT - Ngày 7-9 tại Vladivostok (Nga), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nhân Hội nghị cấp cao APEC 20 -Ảnh: Giản Thanh Sơn
Tại cuộc gặp, hai nhà lãnh đạo nhất trí cho rằng trong tình hình hiện nay, việc không ngừng tăng cường sự tin cậy về chính trị, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí về nhiều phương hướng lớn thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới như duy trì, tăng cường các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; thúc đẩy hợp tác thực chất cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế - thương mại; tăng cường các hoạt động giao lưu nhân dân, nhất là giữa thế hệ trẻ hai nước; tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Về vấn đề trên biển, hai bên cần kiên trì thông qua đàm phán, đối thoại giải quyết thỏa đáng vấn đề biển Đông bằng biện pháp hòa bình, không để vấn đề biển Đông ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của quan hệ hai nước.”(hết trích)
http://tuoitre.vn/The-gioi/510587/Khong-de-bien-Dong-anh-huong-quan-he-Viet---Trung.html
Khi hai vị đứng đầu nhà nước đã bỏ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ là phần đường ranh biển Đông do Trung Quốc đã vẽ tấm bản đồ xâm lược cướp hết biển Đông của Việt Nam ra ngoài nghị sự, ra ngoài các cuộc đàm phán song phương, thì thôi rồi Lượm ơi, chủ tịch Trương Tấn Sang coi như đã công nhận ĐƯỜNG LƯỠI BÒ ăn cướp hết biển Việt Nam của Trung Quốc là biển của Trung Quốc rồi …
Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa và mấy đảo Trường sa, lại đưa 23.000 tàu vũ trang treo lưới đánh cá tràn ngập hai quần đảo của Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam như cơm bữa, cướp tàu cướp cá, cướp hết ngư trường của dân Việt Nam trên chính biển của Việt Nam mà quan hệ hai nước vẫn tốt đẹp à ?
Đã thế, Trung Quốc sẽ nâng mối quan hệ hai nước tốt đẹp lên bội phần là sau đại hội đảng cộng sản Trung Quốc tháng 11 này, Trung Quốc sẽ cho biển người, biển tàu, biển hạm đội tràn ngập chiếm hết quần đảo Trường Sa của Việt Nam; vì theo thỏa thuận này, Việt Nam vẫn sẽ vui vẻ phấn khởi vỗ tay hoan hô 4 tốt và 16 chữ vàng ( khè), vẫn ngồi im xem NƯỚC RĂNG CHIẾM HẾT BIỂN NƯỚC MÔI  sao mà nhanh rứa ( không phải Tô Huy…) ?
Dù Trung Quốc có chiếm hết biển Đông thì mối quan hệ hai nước vẫn tốt đẹp, đúng như thỏa thuận của ông Trương Tấn Sang và ông hồ Cẩm Đào tại Vladivostok hôm qua : bỏ vấn đề BIỂN ĐÔNG ra ngoài cac cuốc đàm phán giữa hai nước: KHÔNG ĐỂ BIỂN ĐÔNG LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ HAI NƯỚC. Đến đây thì nhà bình luận quốc tế bất đắc dĩ là Trần Mạnh Hảo cũng phải thốt lên rằng : Chính quyền của đảng cộng sản đang cai trị Việt Nam đã ngầm công nhận ĐƯỜNG LƯỠI BÒ ĂN CƯỚP NGOÀI BIỂN ĐÔNG LÀ CHÍNH THỨC CỦA TRUNG QUỐC rồi ! Than ôi, thời oanh liệt ( Ngô Lý Trần Lê Nguyễn ( Tây Sơn) nay còn đâu …?
Người viết bài này hồi còn bé đã được Đảng dạy cho bài hát đến giờ còn thuộc : “ Việt Nam Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông chung một biển đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông…”…Hóa ra, vấn đề lưỡi bò hôm nay hai đảng anh em Trung Việt đã thỏa thuận từ xưa : BIỂN ĐÔNG LÀ CỦA CHUNG HAI NƯỚC : nước tôi lớn tôi lấy phần biển lớn,  đồng chí nước bé lấy phần biển bé…trước sau rồi mục tiếu xã hội chủ nghĩa cũng phải đến là xóa bỏ biên giới Việt Trung …
Mới thấy lời lên án bọn “ CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” của chủ tịch nước Trương Tấn Sang hôm kỷ niệm quốc khánh 2-9-2012 vừa qua là chuyện thật như đùa hay chuyện đùa như thật ? Do đó, ông Trương Tấn Sang mới thấy mình và các đồng chí của ông lấy làm  “ HỔ THẸN VỚI TIỀN NHÂN” lắm lắm…
Sài Gòn 08-9-2012

Trần Mạnh Hảo